vanban.org

Bản án 19/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố Phạm Ngọc Tr, Vũ Anh T, Nguyễn Huy Th và Bùi Thanh V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”,

Về hình phạt: Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 47 BLHS Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc Trác và đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Phạm Ngọc Tr, Vũ Anh T, Nguyễn Huy Th và Bùi Thanh V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”,
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2026/HSST
Ngày: 05/02/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Nguyên

Ông Bùi Thanh Nhiến

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Nga

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 23/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Phạm Ngọc Tr, Sinh ngày 20 tháng 11 năm 2002 tại Phú Thọ;

Nơi thường trú: Tổ Chu, phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số CCCD: 017202005367, cấp ngày 01/9/2021; Nơi cấp: Cục C06 - Bộ Công an; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Đình H, sinh năm 1973 và bà Ngô Thị Ho, sinh năm 1971; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 2002; Bị cáo có 01 con nhỏ sinh năm 2025.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Số 3 - Công an tỉnh Phú Thọ. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

2. Vũ Anh T, Sinh ngày 26 tháng 7 năm 1995 tại Phú Thọ;

Nơi thường trú: Xóm Láng Mái, xã Yên Sơn, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số CCCD: 025095001754, cấp ngày 24/4/2021; Nơi cấp: Cục C06 - Bộ Công an; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Đình V, sinh năm 1971 và bà Hoàng Thị L sinh năm 1971; Vợ: Bùi Thanh V, sinh năm 2002; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Ngày 16/3/2021 bị Ủy bân nhân dân phường Phương Lâm, thành phố Hòa Bình (Nay là Ủy ban nhân dân phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Đã chấp hành xong

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Số 3 - Công an tỉnh Phú Thọ. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Huy Th, Sinh ngày 29 tháng 10 năm 2000 tại Phú Thọ;

Nơi thường trú: Xóm Mời Mít, phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số CCCD: 017200005767, cấp ngày 13/7/2022; Nơi cấp: Cục C06

- Bộ Công an; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Phạm T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; Vợ: Lê Hà Quỳnh A, sinh năm 2000; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Số 3 - Công an tỉnh Phú Thọ. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

4. Bùi Thanh V, Sinh ngày 21 tháng 5 năm 2002 tại Phú Thọ;

Nơi thường trú: Xóm Láng Mái, xã Yên Sơn, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số CCCD: 017302008477, cấp ngày 05/5/2023; Nơi cấp: Cục C06 - Bộ Công an; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1970; Chồng: Vũ Anh T, sinh năm 1995; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ 09 ngày, được thay đổi biện pháp ngăn chặn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 20/10/2025. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Nhữ Mai Hi, sinh năm 2004; Địa chỉ: xóm Yên Hòa 2, phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ

2. Anh Lý Quang L, sinh năm 1992; Địa chỉ: tổ 9, phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

3.Anh Quách Đình B, sinh năm 2004; Địa chỉ: xóm Bún, phường Tân Hoà, tỉnh Phú Thọ.

4. Anh Hà Thế D, sinh năm 2000; Địa chỉ: xóm Yên Hòa 2, phường Tân Hoà, tỉnh Phú Thọ.

5. Chị Bùi Thị B, sinh năm 1995; Địa chỉ: xóm 10, thôn Phượng Cách 3, xã Quốc Oai, TP Hà Nội

6. Chị Lê Thị H, sinh năm 1999; Địa chỉ: xóm Yên Hòa 1, phường Tân Hoà, tỉnh Phú Thọ

7. Chị Lê Thị Huyền Tr, sinh năm 2008; Địa chỉ: xóm Yên Hòa 2, phường Tân Hoà, tỉnh Phú Thọ

8. Anh Bùi Văn A, sinh năm 2004; Địa chỉ: tổ 02, phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ.

9. Anh Lương Anh D, sinh năm 1986; Địa chỉ: tổ 4, phường Tân Hoà, tỉnh Phú Thọ.

10. Anh Lương Xuân H, sinh năm 1984; Địa chỉ: tổ 14, phường Hoà Bình, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Ngọc Tr sinh năm 2002, trú tại: Tổ Chu, phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ; Vũ Anh T sinh năm 1995, trú tại: Xóm Láng Mái, xã Yên Sơn, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Huy Th sinh năm 2000, trú tại: Xóm Mời Mít, phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ và Bùi Thanh V sinh năm 2002, trú tại: Xóm Láng Mái, xã Yên Sơn, tỉnh Phú Thọ (vợ của Tuấn) có mối quan hệ quen biết nhau từ trước.

Khoảng 21 giờ ngày 10/10/2025, sau khi tham dự đám cưới tại nhà riêng của Nhữ Mai Hi, sinh năm 2004 thuộc xóm Yên Hòa 2, phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ, Vũ Anh T và Bùi Thanh V cùng một số người bạn đi taxi đến quán New 1985 (Hero Club) có địa chỉ tại tổ 09 (phường Hữu Nghị cũ), phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ, vào ngồi bàn Víp 6. Sau đó nhóm của Lý Quang L, Bùi Văn A, Nhữ Mai Hi cùng vợ là Lê Thị Huyền T đi taxi đến quán và ngồi bàn Víp 2. Lúc này, Nguyễn Huy Th đi cùng vài người bạn cũng đến quán ngồi tại bàn Víp 5. Quách Đình B được Hi rủ lên quán để nghe nhạc, đi cùng thêm vài người bạn của Hi tại thành phố Hà Nội vào quán sử dụng bàn đứng khu vực giữa sân khấu. Ngoài ra, Th còn rủ thêm Lê Thị H, Hà Thế D và một số người bạn của H, D. Một lúc sau, nhóm bạn của B, D, H, Th ra về còn lại Th, H, B, D đi giao lưu các bàn bên cạnh và ngồi giao lưu, uống bia tại bàn Víp 5 và Víp 6.

Tại bàn Víp 5, Th có ghé vào tai H rủ sử dụng ma túy và được H đồng ý. Khi nhìn thấy T đi ra ngoài cửa quán nghe điện thoại thì Th đi theo và bảo T biết chỗ nào mua hộ ma túy thì mua cho Th 02 viên ma túy “kẹo” để sử dụng. T đồng ý và lấy điện thoại gọi qua ứng dụng Messenger cho Phạm Ngọc Tr hỏi mua 03 viên ma túy “kẹo” mục đích mua hộ Th 02 viên còn 01 viên để T sử dụng và được Tr đồng ý báo giá cho T 500.000 đồng (năm trăm nghìn) một viên tổng là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn). Tr gọi điện qua ứng dụng Telegram cho một người đàn ông có tên là “Man” hỏi mua 03 viên ma túy “kẹo” với giá 1.500.000 đồng và được “M” đồng ý, hẹn đến một con ngõ gần phố Ngọc (phường Trung Minh cũ), phường Hòa Bình nhận ma túy. Khi đến nơi Tr thấy cạnh bờ tường có 01 túi nilon chứa 03 viên ma túy, Tr nhặt gói ma túy cầm trong lòng bàn tay trái (Tr chưa trả tiền cho người đó) đi đến khu vực đầu dốc chuyên gia đường vào quán New 1985 rồi gọi T lên nhận ma túy. T cầm số tiền 1.000.000 đồng Th đưa cho và tự bỏ thêm 500.000đ tiền của T lên gặp Tr. T đưa 1.500.000 đồng tiền mặt cho Tr, Tr đưa cho T 01 túi nilon chứa 03 viên ma túy rồi đi về nhà nhưng không trả tiền cho người đàn ông bán ma túy mà đã tiêu sài cá nhân hết.

Sau khi nhận được ma túy từ Tr, T đã cầm trong tay đi đến chỗ Th đợi trước cửa quán đưa cho Th 02 viên ma túy, còn 01 viên T cầm ra phía sau quán rồi gọi vợ là V ra để cùng sử dụng. T bẻ đôi viên ma túy, đưa cho V sử dụng một nửa, còn một nửa T sử dụng cho bản thân bằng hình thức uống trực tiếp vào cơ thể.

Đối với Th, khi có ma túy Th mang vào trong nhà vệ sinh của quán bẻ đôi 01 viên ma túy ra để chia cho H sử dụng thì bị rơi một nửa viên vào bồn cầu nên Th đã xả nước đi. Còn 1,5 viên ma túy, Th mang vào bàn Víp 5, nhân lúc không có ai để ý Th đã đưa cho H nửa viên, H cầm ma túy tự cho vào miệng sử dụng cùng nước lọc, còn Th tự cho 01 viên ma túy vào miệng sử dụng hết cùng nước lọc rồi cả Th và H sang bàn Víp 6 ngồi giao lưu.

Về phía Phạm Ngọc Tr, sau khi nhận tiền từ T xong Tr đi về nhà, được một lúc rồi quay lại quán New 1985, đến bàn Víp 6 để uống bia giao lưu cùng mọi người theo lời mời của T. Khi Hi sang giao lưu tại bàn Víp 6 do muốn sử dụng ma túy nên đã nhờ V mua hộ 02 viên ma túy để Hi sử dụng và được V đồng ý. V nói với Tr mua hộ V 02 viên ma túy, Tr đồng ý báo giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). V nói lại với Hi 02 viên ma túy giá 1.000.000 đồng, Hi đã chuyển khoản cho V số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn) từ tài khoản ngân hàng Viettinbank của Hi đến tài khoản ngân hàng MB Bank của V để trả tiền mua ma túy và nói với V trả thêm cho người mua hộ ma túy 100.000 đồng (một trăm nghìn) tiền công. Tr lại tiếp tục gọi điện qua ứng dụng Telegram cho người tên “M” trước đó, hỏi mua 02 viên ma túy với giá 1.000.000 đồng và được “M” đồng ý hẹn đến chỗ cũ nhận ma túy. Tr đi đến chỗ hẹn, thấy 02 viên ma túy được gói trong gói giấy dưới chân tường bao nên đã cầm trong tay (chưa trả tiền cho “M”) đi về quán, đến bàn Víp 6 đưa cho V 02 viên ma túy vừa mua được. Do Tài khoản ngân hàng của V bị lỗi, nên đã nói với Tr sẽ chuyển tiền mua ma túy sau và nói mua hộ Hi nên Hi cho Tr thêm 100.000 đồng tiền công, tuy nhiên, Tr bảo chỗ quen biết V nên chỉ mua hộ ma túy không nhận tiền công, chỉ nhận đủ số tiền 1.000.000 đồng mua ma túy. V cầm 02 viên ma túy đưa cho Hi, có ma túy, Hi cho cả 02 viên vào miệng để sử dụng. Quách Đình B và Lý Quang L khai nhận khi đang nghe nhạc, nhảy nhót ở khu vực giữa sân khấu thì có ai đó từ đằng sau đưa viên ma túy vào miệng nhưng cả hai không xác định được là ai, B biết là ma túy nên đã nhai và uống cùng với nước lọc còn L thì nhổ ra sàn nhà nhưng do say rượu nên không nhớ chính xác cụ thể vị trí nào. Cả nhóm ngồi uống bia nghe nhạc đến 01 giờ 00 phút ngày 11/10 2025 thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Phòng Cảnh sát cơ động, Công an tỉnh Phú Thọ và Công an phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ kiểm tra hành chính quán New 1985. Tại thời điểm kiểm tra có 59 người cả khách và nhân viên của quán, trong đó có 11 người có kết quả dương tính với ma túy bao gồm: Phạm Ngọc Tr, Nguyễn Huy Th, Vũ Anh T, Bùi Thanh V, Quách Đình B, Nhữ Mai Hi, Lê Thị H, Hà Thế D, Lý Quang L, Hoàng Công M, Bùi Thị B.

Ngày 11/10/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Huy Th, Vũ Anh T và Phạm Ngọc Tr. Cùng ngày, Bùi Thanh V đến cơ quan công an xin đầu thú về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 10/10/2026 tại quán New 1985.

Tại bản kết luận giám định số: 2730/KL-KTHS ngày 19 tháng 10 năm 2025 của phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ. Kết luận:

“1. Tìm thấy MDMA và Ketamine trong các mẫu chất lỏng màu vàng ghi là Mẫu nước tiểu thu của các đối tượng gửi giám định gồm:

- Quách Đình B, sinh năm: 2004, thường trú: Phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ;

- Nhữ Mai Hi, sinh năm: 2004, thường trú: Phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ;

- Phạm Ngọc Tr, sinh năm: 2002, thường trú: Phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ;

- Nguyễn Huy Th, sinh năm: 2000, thường trú: Phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ;

- Vũ Anh T, sinh năm: 1995, thường trú: xã Yên Sơn, tỉnh Phú Thọ;

2. Tìm thấy MDMA trong hai mẫu chất lỏng màu vàng ghì là Mẫu nước tiểu thu của các đối tượng gửi giám định, gồm:

- Lê Thị H, sinh năm: 1999, thường trú: Phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ;

- Bùi Thanh V, sinh năm: 2002, thường trú: xã Yên Sơn, tỉnh Phú Thọ;

3. Tìm thấy chất 11-Nor-9-Carboxy-THC trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là Mẫu nước tiểu của Hà Thế D, sinh năm: 2000, thường trú: Phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ được niêm phong trong chai nhựa gửi giám định”.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu và việc xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 điện thoại di động không ghi nhãn hiệu ngoài vỏ, màu xanh, mặt sau có hình quả táo màu trắng bị khuyết một phần, không mở được mật khẩu, thu giữ của Phạm Ngọc Tr;

- 01 điện thoại di động tên máy "iphone 13 Pro Max", số máy: MLEE3LL/A; số sê-ri: T96V2XQ4RW, màu trắng bạc, trong có 01 sim Mobifone, đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Anh T;

- 01 điện thoại di động tên máy "iphone 14 Pro Max", số máy: MQ8R3LL/A; số sê-ri: JNW4NC4JJ3, màu tím, trong có 01 sim Viettel, đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Thanh V.

Tất cả các vật chứng trên được chuyển đến Cơ quan Thi hành án dân sự để xử lý theo quy định.

Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông trên ứng dụng Telegram tên là “M” bán ma túy cho Phạm Ngọc Tr, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, con người cụ thể nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này. Cơ quan điều tra tiếp tục thu thập tài liệu, chứng cứ khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định;

Đối với anh Lương Xuân H là chủ cơ sở kinh doanh quán New 1985, tuy nhiên có ủy quyền quản lý, trông coi cho anh Lương Anh D, sinh năm 1986, HKTT: tổ 4, phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ. Ngày 10/10/2025 trong quá trình đang ở quán New 1985 phát hiện ra có một số khách tại bàn Víp 6 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên đã thông báo sự việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Phú Thọ do đó không đề cập xử lý trong vụ án này;

Đối với Nhữ Mai Hi, sinh năm: 2004, trú tại: Xóm Yên Hòa 2, Phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ; Lê Thị H, sinh năm: 1999, trú tại: Xóm Yên Hòa 1, Phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ; Quách Đình B, sinh năm: 2004, trú tại: Xóm Bún, Phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ và Lý Quang L, sinh năm 1992, trú tại: Tổ 09 phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ không tham gia vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 10/10/2025, xác minh không thuộc diện quy định tại điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên là có căn cứ, đúng quy định;

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Ngọc Tr, quá trình điều tra Tr khai nhận ngày 10/11/2025 chỉ cung cấp ma túy cho T và V, bản thân Tr đã sử dụng ma túy trước đó, qua xác minh không thuộc diện quy định tại điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Ngọc Tr là có căn cứ, đúng quy định;

Đối với Hà Thế D, sinh năm: 2000, trú tại: Xóm Yên Hòa 2, Phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ; Hoàng Công M, sinh năm 1997, trú tại: Thôn Điền Lương, xã Tam Dương, tỉnh Phú Thọ và Bùi Thị B, sinh năm 1995, trú tại: Xóm 10, thôn Phượng Cách 3, xã Quốc Oai, thành phố Hà Nội không tham gia vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trước đó, xác minh không thuộc diện quy định tại điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên là có căn cứ, đúng quy định;

Đối với những người cung cấp ma túy cho Quách Đình Bảo, Lý Quang L, Phạm Ngọc Tr, Hà Thế D, Hoàng Công M và Bùi Thị sử dụng, quá trình xác minh không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định

Cáo trạng số 48/CT-VKSKV12 ngày 21/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ truy tố các bị cáo Phạm Ngọc Tr và Vũ Anh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Truy tố các bị cáo Nguyễn Huy Th và Bùi Thanh V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Tr từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy;

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Vũ Anh T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy;

- Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS:

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Th từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy;

+ Xử phạt bị cáo Bùi Thanh V từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

* Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

- Phát mại sung công quỹ nhà nước đối với 01 điện thoại di động thu giữ của Phạm Ngọc Tr, 01 điện thoại di động thu giữ của Vũ Anh T và 01 điện thoại di động thu giữ của Bùi Thanh V;

- Truy thu từ bị cáo Phạm Ngọc Tr số tiền 1.500.000 đồng sung vào công quỹ nhà nước;

- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước số tiền 1.100.000 đồng trong tài khoản của Bùi Thanh V hiện đang bị áp dụng Lệnh phong tỏa tài khoản của cơ quan điều tra.

* Về Án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Các bị cáo nhất trí với bản luận tội không có ý kiến tranh luận gì.

Trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Ngọc Tr, Vũ Anh T, Nguyễn Huy Th và Bùi Thanh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 10/11/2025 tại quán bar New 1985, các bị cáo Phạm Ngọc Tr, Vũ Anh T, Nguyễn Huy Th và Bùi Thanh V cùng nhau cố ý thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo cụ thể như sau:

Phạm Ngọc Tr đã hai lần đi mua ma túy để cho người khác sử dụng (một lần mua giúp T và một lần mua giúp V) nên Tr có vai trò là người cung cấp ma túy và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên”.

Vũ Anh T là người được Th nhờ mua ma túy, đã trực tiếp liên hệ với Phạm Ngọc Tr để mua ma túy giúp Th đồng thời tự bỏ tiền để nhờ Tr mua ma túy cho bản thân và chia một nửa viên ma túy cho V sử dụng nên T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tình tiết “Đối với hai người trở lên”.

Nguyễn Huy Th là người đưa tiền và nhờ Vũ Anh T mua ma túy; Rủ rê và trực tiếp đưa ma túy cho H sử dụng nên Nguyễn Huy Th phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Lê Thu H.

Bùi Thanh V là người được Nhữ Mai Hi nhờ mua ma túy, đã trực tiếp liên hệ với Phạm Ngọc Tr để mua ma túy cho Hi sử dụng nên V phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nhữ Mai Hi.

Như vậy hành vi của Phạm Ngọc Tr đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Hành vi của Vũ Anh T đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Hành vi của Nguyễn Huy Th và Bùi Thanh V đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng, lao động làm người có ích, các bị cáo nhận thức rõ hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác.

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo đều đang nuôi từ 1 đến 2 con nhỏ trong độ tuổi mầm non; Riêng bị cáo Bùi Thanh V đã tự nguyện đến cơ quan Công an xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân; Bị cáo Nguyễn Huy Th có ông bà ngoại được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng 3; Bị cáo Phạm Ngọc Tr có ông nội được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.

Trong vụ án này, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo tuy không lên kế hoạch từ trước nhưng cùng thống nhất ý chí để thực hiện hành vi phạm tội, nên xác định vụ án này thuộc trường hợp có đồng phạm giản đơn, tuy nhiên trách nhiệm hình sự của các bị cáo cần phải phân hoá cụ thể để phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội.

Đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nguyên nhân, động cơ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm bằng hình thức cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng:

Đối với:

1./ 01( Một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Pro Max, màu trắng bạc. Có số máy: MLEE3LL/A; Số Seri: T96V2XQ4RW và 01( một) thẻ sim Mobile. Điện thoại đã cũ chày xước và qua sử dụng. Không tiến hành kiểm tra bộ phận chi tiết bên trong.

2./ 01( Một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Pro Max, màu tím. Có số máy: MQ8R3LL/A; Số Seri: JNW4NC4JJ3. Điện thoại đã cũ chày xước và qua sử dụng. Không tiến hành kiểm tra bộ phận chi tiết bên trong.

3./ 01( Một) điện thoại di động màu xanh, mặt sau có hình quả táo màu trắng khuyết một phần.Điện thoại đã cũ chày xước và qua sử dụng không mở được mật khẩu. Không tiến hành kiểm tra bộ phận chi tiết bên trong.

Xét đây là công cụ phương tiện các bị cáo liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước.

Về các vấn đề khác:

Đối với những người và hành vi có liên quan đến vụ án nhưng quá trình điều tra đã xử lý hoặc chưa xác minh làm rõ được nhân thân cũng như hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: các bị cáo Phạm Ngọc Tr, Vũ Anh T, Nguyễn Huy Th và Bùi Thanh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố Phạm Ngọc Tr, Vũ Anh T, Nguyễn Huy Th và Bùi Thanh V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”,

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Tr 07 năm 06 (Bẩy năm sáu tháng) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/10/2025.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Vũ Anh T 07 năm 03 (Bẩy năm ba tháng) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/10/2025.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Th 39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/10/2025.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Bùi Thanh V 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, được trừ 09 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 47 BLHS

- Truy thu từ bị cáo Phạm Ngọc Tr số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) do Nguyễn Huy Th và Vũ Anh T đưa cho nhờ mua ma tuý để sung vào ngân sách Nhà nước;

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) hiện đang trong Tài khoản ngân hàng MB Bank (Số tài khoản 985818886) mang tên Bùi Thanh V, đang bị áp dụng Lệnh phong tỏa tài khoản của cơ quan điều tra.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước:

1./ 01( Một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 Pro Max, màu trắng bạc. Có số máy: MLEE3LL/A; Số Seri: T96V2XQ4RW và 01( một) thẻ sim Mobile. Điện thoại đã cũ chày xước và qua sử dụng. Không tiến hành kiểm tra bộ phận chi tiết bên trong.

2./ 01( Một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Pro Max, màu tím. Có số máy: MQ8R3LL/A; Số Seri: JNW4NC4JJ3. Điện thoại đã cũ chày xước và qua sử dụng. Không tiến hành kiểm tra bộ phận chi tiết bên trong.

3./ 01( Một) điện thoại di động màu xanh, mặt sau có hình quả táo màu trắng khuyết một phần.Điện thoại đã cũ chày xước và qua sử dụng không mở được mật khẩu. Không tiến hành kiểm tra bộ phận chi tiết bên trong.

(Chi tiết về đặc điểm, tình trạng của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 37/BB - GNVC ngày 02 tháng 02 năm 2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Phú Thọ)

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Phạm Ngọc Tr, Vũ Anh T, Nguyễn Huy Th và Bùi Thanh V mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh PT;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh PT;

- VKSND KV 12;

- CQ THADS tỉnh PT;

- Phòng THADS KV12;

- Phòng PC10, PC 02 – CAT;

- Phòng PV06, CAT;

- Bị cáo, người tham gia tố tụng;

- Lưu HS.

Đinh Thị Ngọc Hà THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ