vanban.org

Bản án 19/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 23/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô Minh T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt hai tội buộc bị cáo Ngô Minh T phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật…"
  • Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Ngô Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG
---------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST
Ngày: 23 - 04 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM – TỈNH VĨNH LONG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Dung

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trung Du

Ông Huỳnh Văn Hồng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lưỡng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 26/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Ngô Minh T, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1991 tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: ấp L, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: mua bán; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Ngô Minh H và bà Lê Thị Hoàng M. Bị cáo có vợ tên Huỳnh Cẩm T và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2025.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/9/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo Nguyễn Quang H, sinh ngày 27 tháng 3 năm 1999 tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: ấp 3, xã N, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị P. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 25/5/2024 bị Ủy ban nhân dân xã N, huyện Vũng Liêm ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 76/QĐ-UBND, thời hạn từ ngày 25/5/2024 đến ngày 25/5/2025.

Ngày 03/4/2019 bị Tòa án huyện Vũng Liêm tuyên phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản, chấp hành án xong ngày 17/9/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/9/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Bị cáo Lê Minh H, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1987 tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: ấp 2, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Lê Văn D và bà Trần Thị Ph.

Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim B (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 12/10/2021 bị Tòa án huyện Vũng Liêm tuyên phạt 06 tháng về tội trộm cắp tài sản, chấp hành án xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/9/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Bị cáo Trần Khánh L, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1999 tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: ấp H, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: mua bán; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Trần Minh T và bà Nguyễn Thị T. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: không.

Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 24/01/2024 Công an xã H, huyện Vũng Liêm ra Quyết định xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/9/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Bị cáo Hồ Quốc T, sinh ngày 30 tháng 7 năm 2004 tại tỉnh Vĩnh Long

. Nơi ĐKTT và nơi ở hiện nay: Khóm 1, Thị trấn Vũng Liêm, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Hồ Quốc T và bà Nguyễn Thị Nguyệt D. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: không.

Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 03/01/2024 bị Công an thị trấn Vũng Liêm, huyện Vũng Liêm ra Quyết định xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt.

Nhân thân: Ngày 19/8/2024 Tòa án huyện Vũng Liêm ra Quyết định số 29/2024/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/01/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Minh T là ông Bùi Minh Tr – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Các bị cáo Ngô Minh T, Lê Minh H, Nguyễn Quang H, Trần Khánh L và Hồ Quốc T là bạn bè. Vào ngày 05/9/2024 bị cáo H, H, L và T lần lượt đến nhà của bị cáo T. Đến tối H hỏi T có ma túy không lấy ra sử dụng, bị cáo T trả lời “không có” và nói “ tụi bây đưa tiền cho tao là có ma túy chơi”. Khi đó bị cáo H rủ bị cáo L mỗi người hùn 500.000 đồng để bị cáo T mua ma túy sử dụng thì bị cáo L đồng ý, nhưng cả hai chưa đưa tiền cho bị cáoT. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T kêu bị cáo H đi lấy ma túy cất giấu trong bao thuốc lá hiệu Jet bỏ gần thùng rác màu xanh cặp lề Quốc lộ 53 giáp với đường kênh tuổi trẻ thuộc xã Trung Nghĩa, ma túy này bị cáo T mua 500.000 đồng của người bạn tên T ở Sài Gòn, bị cáo T không biết số điện thoại và địa chỉ của T. Bị cáo H đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 84F9-9057 (xe do bị cáo H mua xe củ đã qua sử dụng) đến nơi bị cáo T hướng dẫn lấy được ma túy mang về đưa cho bị cáo T. Sau đó bị cáo T lấy ra một đoạn ống hút nhựa chứa ma túy, ném lên giường ở nhà sau và nói “tụi bây đổ ra chơi đi”. Bị cáo L nghe bị cáo T nói vậy, cầm đoạn ống nhựa màu trắng lên xem, thì bị cáo H hỏi “cái này là sao”, bị cáo L trả lời “anh T kêu đổ ra chơi đi”. Bị cáo H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để lên giường, bị cáo T thấy nước trong chai ít nên đổ nước thêm vào rồi đưa cho bị cáo H và lấy kéo ở bàn gỗ nhà sau đưa bị cáo H cắt ống ma túy đổ vào nỏ. Lúc này, bị cáo T nói “tụi bây xúm chùm ở đây làm cái gì, không ra dòm trước dòm sau”, bị cáo H cũng nói “tụi bây xúm chùm ở đây làm cái gì, một hồi công an bắt hết bây giờ”. Liền sau đó bị cáo H và bị cáo L đi ra hành lang trước nhà ngồi canh gác. Khi bị cáo H đổ ma túy vào nỏ thì còn dư lại 01 phần trong ống nhựa nên hàn kín lại đưa cho bị cáo T, bị cáo T kêu bị cáo H cất khi nào hết thì đổ vô sử dụng tiếp, bị cáo H đã cất giấu đoạn ống nhựa chứa ma túy còn lại dưới chiếu cạnh đầu giường đang ngồi. Sau khi đổ ma túy vào nỏ xong, bị cáo H cầm bật lửa hơ lên cho tan và sử dụng, rồi lần lượt các bị cáo T, H, L và T sử dụng ma túy cho đến hết.

Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 06/9/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vũng Liêm kết hợp Công an xã T kiểm tra lập biên bản quả tang đối với Trần Khánh L, Nguyễn Quang H và Hồ Quốc T. Riêng Nguyễn Quang H đã lấy đoạn ma túy dưới chiếu đem cất giấu bên dưới nắp lỗ thoát nước trong nhà vệ sinh giao nộp. Cơ quan điều tra đã thu giữ tang vật 01 ống nhựa màu trắng có hàn kín 02 đầu, bên trong có các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. Đối với Lê Minh H, Ngô Minh T thì lén lút bỏ chạy. Sau đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vũng Liêm đã triệu tập Lê Minh H, Ngô Minh T đến làm việc. Kết quả test nhanh ngày 06/9/2024 của Công an huyện Vũng Liêm xác định các bị cáo Ngô Minh T, Lê Minh H, Nguyễn Quang H, Trần Khánh L và Hồ Quốc T dương tính với Methamphetamine.

Tại kết luận giám định số 598/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 đoạn ống nhựa trong túi niêm phong (mã số NS4.203690) gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,2394 gam loại Methamphetamine.

Về vật chứng vụ án: Mẫu tinh thể mà trắng còn lại sau giám định, khối lượng 0,2008 gam, vỏ bao gói (gồm 01 túi niêm phong mã số NS4.2036920; 01 đoạn ống nhựa) mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự tỉnh Vĩnh Long hoàn trả, được niêm phong số 598/ NS4.2036920; 01 xe mô tô biển số 84F9-9057 của Nguyễn Quang H; 02 điện thoại nhãn hiệu Samsung (01 màu đen; 01 màu vàng đồng).

Tại Cáo trạng số: 09/CT- VKSHVL ngày 25 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm đã truy tố các bị cáo Ngô Minh T, Hồ Quốc T, Lê Minh H và Trần Khánh L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Quang H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Ngô Minh T và Nguyễn Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

1.Tuyên bố bị cáo Ngô Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 55 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành mức án từ 09 năm đến 10 năm tù.

2.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 55 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.

3.Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 255, điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

4.Tuyên bố bị cáo Trần Khánh L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 255, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

5.Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 255, điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy mẫu tinh thể mà trắng, khối lượng 0,2008 gam, vỏ bao gói (gồm 01 túi niêm phong mã số NS4.2036920; 01 đoạn ống nhựa); Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 84F9-9057 của bị cáo Nguyễn Quang H; Trả lại bị cáo Trần Khánh L 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung; Trả lại bị cáo Hồ Quốc T 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, riêng bị cáo T thuộc trường hợp hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo T.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Người bào chữa cho bị cáo T có ý kiến như sau: Bị cáo T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có hai con còn nhỏ, phạm tội lần đầu, khi phạm tội không có sự câu kết với các bị cáo khác, là đồng phạm giản đơn, bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo thuộc hộ nghèo, nhất thời phạm tội, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 17, 58, 38 xử phạt bị cáo khung thấp nhất khung hình phạt về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” mức án bảy năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mức án một năm tù, tổng hợp hình phạt mức án tám năm tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo do bị cáo thuộc hộ nghèo.

Các bị cáo Ngô Minh T, Hồ Quốc T, Lê Minh H, Trần Khánh L và Nguyễn Quang H đã thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như cáo trạng đã truy tố. Lời nói sau cùng của các bị cáo là biết lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Ngô Minh T, Hồ Quốc T, Lê Minh H, Nguyễn Quang H và Trần Khánh L đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố các bị cáo Ngô Minh T, Hồ Quốc T, Lê Minh H và Trần Khánh L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Quang H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Ngô Minh T và Nguyễn Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Lời khai nhận của các bị cáo tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ ngày 05/9/2024 đến khoảng 01 giờ 30 sáng ngày 06/9/2024 tại nhà của bị cáo Ngô Minh T, thuộc ấp L, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Các bị cáo Ngô Minh T, Nguyễn Quang H, Lê Minh H, Hồ Quốc T và Trần Khánh L đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 01 giờ 30 ngày 06/9/2024 thì Công an kiểm tra phát hiện lập biên bản, thu giữ tang vật là 01 ống nhựa màu trắng có chứa ma túy được hàn kín 02 đầu có khối lượng 0,2394 gam loại Methamphetamine do bị cáo T kêu bị cáo H cất giấu. Bị cáo H đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 76/QĐ-UBND thời hạn từ ngày 25/5/2024 đến ngày 25/5/2025.

Tại Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” như sau:

1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Tại Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” như sau:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Đối với 02 người trở lên;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

Các bị cáo Ngô Minh T, Hồ Quốc T, Lê Minh H, Nguyễn Quang H và Trần Khánh L phạm tội với lỗi cố ý thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Vụ án có tính chất đồng phạm, trong đó bị cáo Lê Minh H với vai trò chủ mưu, cầm đầu đã rủ rê người khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, là người phân công và tham gia việc canh gác. Bị cáo Ngô Minh T với vai trò là người chỉ huy, đã sử dụng địa điểm là nhà của bị cáo T để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và cung cấp chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Quang H là người thực hành trực tiếp đi lấy ma túy, chuẩn bị dụng cụ và thực hiện hành vi đưa ma túy vào cơ thể của mình và của người khác; bị cáo Trần Khánh L là người thực hành đã đồng ý hùn tiền mua ma túy cho cả nhóm cùng tổ chức sử dụng và là người trực tiếp tham gia việc canh gác. Bị cáo Hồ Quốc T là người giúp sức đã cung cấp kéo, chuẩn bị dụng cụ cho việc tổ chức đưa ma túy vào cơ thể của mình và của người khác. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Quang H chủ động cất giữ lại một phần ma túy được sự đồng ý của bị cáo Ngô Minh T với mục đích để tiếp tục sử dụng, đây là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như sau: các bị cáo Nguyễn Quang H, Trần Khánh L, Lê Minh H, Hồ Quốc T và Ngô Minh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Quang H tự giác chỉ nơi cất giấu ma túy, bị cáo Trần Khánh L có người thân là người có công với cách mạng, bị cáo Ngô Minh T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu tinh thể mà trắng còn lại sau giám định, khối lượng 0,2008 gam và vỏ bao gói (gồm 01 túi niêm phong mã số NS4.2036920; 01 đoạn ống nhựa) mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự tỉnh Vĩnh Long hoàn trả, được niêm phong số 598/ NS4.2036920.Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 84F9-9057 do bị cáo Nguyễn Quang H đã sử dụng xe để đi lấy ma túy.Trả lại cho bị cáo L 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen. Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng (các vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025) theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Các bị cáo Hồ Quốc T, Lê Minh H, Nguyễn Quang H và Trần Khánh L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ngô Minh T do thuộc hộ nghèo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.1. Tuyên bố bị cáo Ngô Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Minh T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt hai tội buộc bị cáo Ngô Minh T phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06/9/2024.

1.2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt hai tội buộc bị cáo Nguyễn Quang H phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06/9/2024.

1.3. Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Minh H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06/9/2024.

1.4. Tuyên bố bị cáo Trần Khánh L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Khánh L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06/9/2024.

1.5. Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Quốc T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 31/01/2025.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy mẫu tinh thể mà trắng còn lại sau giám định, khối lượng 0,2008 gam và vỏ bao gói (gồm 01(một) túi niêm phong mã số NS4.2036920; 01( một) đoạn ống nhựa), mẫu vật này do Phòng kỹ thuật hình sự tỉnh Vĩnh Long hoàn trả, được niêm phong số 598/ NS4.2036920.

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01(một) xe mô tô biển số 84F9-9057 của bị cáo Nguyễn Quang H.

- Trả lại bị cáo Trần Khánh L 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen.

- Trả lại cho bị cáo Hồ Quốc T 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng.

(Các vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Quang H, Trần Khánh L, Lê Minh H và Hồ Quốc T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo Ngô Minh T được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ