- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Trần Đức Tr - TTTPCMT và TCSDTPCMT - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HS-ST Ngày 13-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiển.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Mạnh và bà Trần Thị Định.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Đức Tr, sinh năm 1988 tại tỉnh Nam Định;
Nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm Nhì, xã TT, huyện V, tỉnh Nam Định.
Nghề nghiệp: Nhân viên kỹ thuật bưu điện; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức Nam và bà Bùi Thị Mười; Có vợ là Hoàng Thị Linh, sinh năm 1993; Có 02 con, con nhỏ sinh năm 2021 và con lớn sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-12-2022 đến nay. (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Triệu Thị Thảo H, sinh năm 2000. Địa chỉ: Số 15/244, đường Văn Cao, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Anh Đàm Văn Hoàn, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn Định Trạch, xã LB, huyện V, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
+ Anh Trần Ngọc Hào, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn Trình Xuyên, xã LB, huyện V, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
+ Anh Nguyễn Quốc Tuân, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn Hạnh Lâm, xã Hiển Khánh, huyện V, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Công Thành, sinh năm 1963. Địa chỉ: Xóm 9, Trình Xuyên, xã LB, huyện V, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
+ Anh Bùi Văn Quang, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn Xẫy Phan, xã Bình Minh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Đức Tr là nhân viên kỹ thuật của Bưu điện Trình Xuyên thuộc xã LB, huyện V, tỉnh Nam Định. Tr bắt đầu sử dụng ma túy “Ke” và ma túy “Kẹo” từ tháng 6 năm 2022. Vào ngày 10 tháng 12 năm 2022 khi Tr đang ngồi tại quán nước ven đường gần khu công nghiệp Bảo Minh thuộc xã Liên Minh, huyện V, tỉnh Nam Định thì gặp và mua của một nam thanh niên tên Hiếu khoảng 30 tuổi (Tr không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này) 02 gói ma túy “Ke” và 04 viên ma túy “Kẹo” với giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng) rồi mang về cất giấu trong tủ cá nhân nơi làm việc của Tr để sử dụng dần. Khoảng 01 giờ ngày 16 ngày 12 năm 2022, khi đang ở phòng trực tầng hai của Bưu điện Trình Xuyên, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Tr đã gọi điện thoại cho Đàm Văn Hoàn là người quản lý nhân viên phục vụ rót bia để nhờ Hoàn chở cho một người nữ nhân viên rót bia đến Bưu điện Trình Xuyên với mục đích đi chơi với Tr. Trong lúc chờ nhân viên đến, Tr xuống bếp ăn tầng một của bưu điện lấy 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 khò ga lên phòng trực tầng hai đặt lên bàn; rồi mở tủ cá nhân lấy 01 thẻ cứng màu nâu, 01 hộp gỗ bên trong có 02 gói ma túy “Ke” và 04 viên ma túy “Kẹo”. Tr lấy tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng, rồi cuộn tròn theo chiều dài tờ tiền và lồng 03 vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá Vinataba bên ngoài thành ống hút và đặt lên bàn. Lúc này, Hoàn đã chở chị Triệu Thị Thảo H đến, Tr bảo Hoàn đưa nhân viên lên phòng trực tầng hai của Bưu điện rồi Hoàn về luôn. Sau khi H vào phòng trực tầng hai của bưu điện thì Tr bật điện nguồn loa và bảo với H “Em lấy điện thoại của em kết nối bật nhạc sàn cho anh” rồi Tr lấy 01 gói ma túy “Ke” trong hộp gỗ đổ ra đĩa sứ, dùng khò ga hơ nóng đĩa sứ, rồi dùng thẻ cứng dằm nát số ma túy trên đĩa và kẻ thành nhiều đường thẳng nhỏ. Sau đó, Tr lấy 01 viên ma túy “Kẹo” trong hộp gỗ ra, bẻ một phần và uống cùng với nước lọc; Tr nói với H “Em chơi bao nhiêu thì chơi”, thấy có ma túy nên H tự cầm lấy 01 viên ma túy “Kẹo” bẻ ra, thì hai mảnh của viên ma túy bị rơi xuống đất, Tr nhặt hai mảnh của viên ma túy này cất vào trong hộp gỗ, phần viên ma túy kẹo còn lại H đã cho vào miệng uống cùng với nước lọc. Tiếp đó, Tr bật đèn chớp trong phòng và dùng ống hút đã được cuộn sẵn bằng tờ tiền polime hít khoảng 2, 3 đường ma túy “Ke” trên đĩa qua đường mũi; thấy vậy H cũng tự cầm đĩa ma túy “Ke” lên và hít qua đường mũi. Tr và H lần lượt hít thêm khoảng 3, 4 đường ma túy “Ke” nữa rồi cả hai cùng ngồi lên giường lắc lư theo tiếng nhạc sàn và ánh sáng đèn chớp.
Khoảng 02 giờ 00 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Nam Định đi tuần tra tại khu vực thôn Trình Xuyên, xã LB, huyện V, tỉnh Nam Định đã phát hiện, bắt quả tang Tr và H đang sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít trong ánh sáng, nhạc sàn âm thanh công suất lớn tại phòng trực tầng hai của Bưu điện Trình Xuyên.
Tang vật thu giữ trên mặt bàn gồm: 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn đường kính 25cm, trên đĩa bám dính chất dạng tinh thể màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng màu nâu có chữ cartier trên mặt thẻ có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng; 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng được lồng 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc là Vinataba có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng KT (3x3)cm bên trong có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M1; thu giữ trong hộp gỗ: 01 túi nilon màu trắng KT (5x8,5)cm bên trong chứa 03 viên nén màu tím hình tam giác, 01 viên nén màu tím không rõ hình dạng; 01 túi nilon màu trắng KT (8,5x5)cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng KT (9,5x6)cm bên trong chứa 01 viên nén màu tím không rõ hình dạng được niêm phong ký hiệu M2. Ngoài ra Cơ quan CSĐT Công an huyện V còn thu giữ của Tr: 01 điện thoại Iphone 11 promax màu xám; 01 bình khò ga; 01 đèn chớp nhãn hiệu Laser Show; 01 bộ loa vi tính nhãn hiệu Microlab; 01 cốc sứ màu trắng đường kính miệng cốc 06cm; thu giữ của H 01 điện thoại di động Iphone 6 S màu xám và 02 mẫu nước tiểu của H, Tr được ký hiệu lần lượt là N1, N2 để giám định.
Tại bản kết luận số 26/GĐKTHS ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận:
+ Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng bám dính trên 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn đường kính 25 cm, bám dính trên 01 thẻ nhựa cứng màu nâu có chữ cartier và bám dính trong 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá vinataba, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Ketamine. Tổng khối lượng mẫu M1: 0,467 gam.
+ Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng KT (8,5x5) cm, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Ketamine. Khối lượng mẫu: 0,882 gam.
+ Mẫu gồm 03 viên nén hình tam giác màu tím và 01 viên nén màu tím không rõ hình dạng cùng đựng trong 01 túi ni lông màu trắng KT (5x8,5) cm, mẫu 01 viên nén màu tím không rõ hình dạng đựng trong 01 túi ni lông màu trắng KT (9,5x6) cm, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: MDMA. Tổng khối lượng mẫu: 1,494 gam.
- Tại bản kết luận giám định số 29/GĐKTHS ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định có kết luận: Có tìm thấy thành phần các chất gồm: MDMA, Ketamine, Norketamine và Dehydroketamine trong hai mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1, N2 gửi giám định.
- Tại cáo trạng số 14/CT-VKSVB ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Đức Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Đức Tr đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Đức Tr về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Về trách nhiệm hình sự:
+ Hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Đức Tr từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Áp dụng khoản 1 điều 255 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Đức Tr từ 24 tháng 27 tháng tù. Áp dụng điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chung hai tội từ 36 đến 42 tháng tù.
+ Hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo có khó khăn về kinh tế, tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng không mang tính vụ lợi nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
+ Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy được niêm phong theo 02 kết luận giám định: 01 niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định có chứa mẫu vật giám định, mặt trước có ghi: Số 26/KL-KTHS, (M1+M2), “Kính gửi cơ quan CSĐT - CAH Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Trần Đức Tr, sinh năm 1988, HKTT: xóm Nhì, xã TT, huyện V, tỉnh Nam Định và Triệu Thị Thảo H, sinh năm 2000, HKTT: tổ 1, thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Phạm tội về ma túy, ngày 16/12/2022”, được niêm phong bởi 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các chữ ký của người có liên quan; 01 túi niêm phong được niêm phong có chứa mẫu vật giám định, mặt trước có ghi: Số 29/KL-KTHS, (N1+N2), “Kính gửi cơ quan CSĐT - CAH Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Trần Đức Tr, sinh năm 1988, HKTT: xóm Nhì, xã TT, huyện V, tỉnh Nam Định và Triệu Thị Thảo H, sinh năm 2000, HKTT: tổ 1, thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Phạm tội về ma túy, ngày 16/12/2022”, được niêm phong bởi 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các chữ ký của người có liên quan; 01 bình khò ga màu đỏ nhãn hiệu Max; 01 cốc sứ màu trắng đường kính miệng cốc 06cm; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 25cm; 01 thẻ cứng màu nâu có chữ cartier; 03 vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá Vinataba.
. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.000 đồng được cuộn thành ống hút, đây là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.
. Tịch thu bán hóa giá sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone 11 promax màu xám đã cũ; 01 điện thoại di động Iphone 6 S màu xám đã cũ; 01 đèn chớp nhãn hiệu Laser Show; 01 bộ loa vi tính nhãn hiệu Microlab;
+ Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Tại những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; vật chứng của vụ án; lời khai của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác là các chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo đều được thu thập hợp pháp, không mâu thuẫn với nhau và phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: “Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại phòng trực tầng hai của Bưu điện Trình Xuyên thuộc xã LB, huyện V, tỉnh Nam Định, Trần Đức Tr đã có hành vi tổ chức cho Triệu Thị Thảo H sử dụng trái phép chất ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Nam Định phát hiện, bắt giữ. Quá trình điều tra còn thu giữ trong hộp gỗ tại phòng trực tầng hai 0,882 gam ma túy loại Ketamine và 1,494 gam ma túy loại MDMA mà Tr cất giấu để sử dụng cho bản thân”.
Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo Trần Đức Tr với những quy định của pháp luật thì bị cáo Trần Đức Tr đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, buộc bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện thì bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Ngoài ra gia đình bị cáo Tr có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú. Do đó, bị cáo Tr được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội được, đồng thời cũng là để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cho bản thân và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn đường kính 25cm; 01 thẻ nhựa cứng màu nâu có chữ cartier; 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá Vinataba; 01 cốc sứ màu trắng đường kính miệng cốc 06cm; 01 bình khò ga là những công cụ, phương tiện để phục vụ mục đích phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.
+ Đối với 01 điện thoại Iphone 11 promax màu xám đã cũ; 01 điện thoại di động Iphone 6S màu xám đã cũ; 01 đèn chớp nhãn hiệu Laser Show; 01 bộ loa vi tính nhãn hiệu Microlab là những công cụ, phương tiện phục vụ cho mục đích phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng vẫn còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, hóa giá, sung vào Ngân sách Nhà nước.
+ Đối với số lượng ma túy, mẫu nước tiểu của chị H và bị cáo Tr bị thu giữ và được cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.
+ Tịch thu và sung vào Ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị Thảo H: Ngày 09 tháng 01 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Triệu Thị Thảo H là có căn cứ.
Đối với nam thanh niên tên là Hiếu khoảng 30 tuổi ở gần khu công nghiệp Bảo Minh thuộc xã Liên Minh, huyện V, tỉnh Nam Định đã bán cho bị cáo Tr 02 gói ma túy “Ke” và 04 viên ma túy “Kẹo” với giá 4.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng đến nay chưa rõ nhân thân, lai lịch của nam thanh niên này nên đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Trần Đức Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Trần Đức Tr 12 (mười hai) tháng tù.
- Tuyên bố bị cáo Trần Đức Tr phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Đức Tr 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, bị cáo Trần Đức Tr bị xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu và tiêu hủy 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 25cm, 01 thẻ cứng màu nâu có chữ cartier, 03 vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá Vinataba và số lượng ma túy mà cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định; và tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng). Tất cả được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định có chứa mẫu vật giám định, mặt trước có ghi: Số 26/KL-KTHS, (m1+M2), “Kính gửi: Cơ quan CSĐT – Công an huyện V, tỉnh Nam Định. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Trần Đức Tr, sinh năm: 1988. HKTT: xóm Nhì, xã TT, huyện V, tỉnh Nam Định và Triệu Thị Thảo H, sinh năm 2000, HKTT: Tổ 1, thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, Phạm tội về ma tuý, ngày 16/12/2022”, được niêm phong bởi 05 (năm) hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định và có các chữ ký, dòng chữ Nguyễn Ngọc Thao, Trần Viết Tính và Triệu Thị Thảo H.
- Tịch thu và tiêu hủy mẫu nước tiểu của bị cáo Trần Đức Tr, Triệu Thị Thảo H còn lại được đựng trong 01 (một) túi niêm phong có chứa mẫu vật giám định, mặt trước có ghi: số 29/KL-KTHS, (N1+N2), “Kính gửi: Cơ quan CSĐT - Công an huyện V. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Trần Đức Tr, sinh năm: 1988. HKTT: xóm Nhì, xã TT, huyện V, tỉnh Nam Định và Triệu Thị Thảo H, sinh năm 2000, HKTT: Tổ 1, thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, Phạm tội về ma tuý, ngày 16/12/2022”, được niêm phong bởi 05 (năm) hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định, có chữ ký, dòng chữ Nguyễn Ngọc Thao, Trần Viết Tính.
- Tịch thu tiêu hủy 01 cốc sứ màu trắng đường kính miệng cốc 06 cm, 01 bình khò ga
- Tịch thu, hóa giá, sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 promax màu xám đã cũ; 01 điện thoại di động Iphone 6S màu xám đã cũ; 01 đèn chớp nhãn hiệu Laser Show; 01 bộ loa vi tính nhãn hiệu Microlab.
(Vật chứng đang được quản lý tại Kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16 tháng 3 năm 2023).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Đức Tr phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Đức Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiện thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện + tỉnh; - Công an huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Sở tư pháp tỉnh Nam Định; - Phòng PV06+ PC10 Công an tỉnh Nam Định; - UBND xã TT; - Lưu hồ sơ vụ án, thi hành án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Văn Hiển |