- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Công H tổ chức sử dụng trái phép ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Vũ Công H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Mua bán trái phép chất ma túy;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HS-ST Ngày 09- 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đăng Đông và bà Vũ Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa và bà Hoàng Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Vũ Công H, sinh năm 1979 tại xã TV, huyện B, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn B, xã TV, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Công T và bà Phạm Thị T1; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
Bản án số 13 ngày 21/4/2009, TAND huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Ngày 18/7/2016, Công an huyện Bình Giang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị tạm giữ từ ngày 14/10/2022 đến 21/10/2022 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn N, sinh năm 1991 tại xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký thường trú: xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương; nơi ở: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị Ng (bố không xác định); có vợ (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không;
Bị tạm giữ từ ngày 14/10/2022 đến 21/10/2022 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Danh H1, sinh năm 1984.
- Anh Đỗ Văn N1, sinh năm 1999.
- Anh Vũ Công T, sinh năm 1988.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 14/10/2022, Vũ Công H đang ở nhà một mình tại thôn B, xã TV, huyện B thì Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô BKS 34K4-5807 (mượn của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Ngàn) đến chơi. Trong lúc ngồi chơi, nói chuyện, H mời N sử dụng ma túy đá, N đồng ý. H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 1 lọ nhựa gắn ống hút nhựa và coóng tủy tinh) của mình, bên trong coóng đã có sẵn ma túy đá do H sử dụng từ hôm trước còn lại. H và N cùng sử dụng ma túy bằng hình thức dùng bật lửa hơ nóng coóng tạo khói, dùng ống nhựa gắn ở nắp chai hút trực tiếp vào cơ thể, sau đó H và N đi ngủ.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn DanhH1 và Đỗ Văn N1 đến nhà H chơi. Tại đây,H1 hỏi H có ma túy đá bán không đểH1 mua, H nói có và đồng ý bán choH1 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy,H1 nói với H "Anh cho em sử dụng tại nhà anh luôn nhé", H đồng ý. H lấy túi ma túy để ở trong ngăn bàn đưa cho N và bảo N lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá đổ ma túy vào coóng để mọi người sử dụng. N cầm túi ma túy H đưa đổ vào coóng rồi để ở trên giường đểH1 tự sử dụng, sau đó N tiếp tục dùng bật lửa hơ nóng coóng để choH1 sử dụng, sử dụng xongH1 say ma túy, nằm ngủ tại giường nhà H. Trong lúcH1 nằm ngủ, N và N1 thấy trong coóng vẫn còn ma túy nên tự ý lấy sử dụng.
Sau khi sử dụng hết số ma túy củaH1, N1 hỏi H còn ma túy không bán cho N1 200.000 đồng, đồng thời đưa cho H 2 tờ Polymer mệnh giá 100.000 đồng. H bảo N1 hết ma túy rồi, N1 nói "cứ để tiền ở đây, khi nào có đến sử dụng sau", H cầm tiền và bảo với N1 "lúc khác đến chơi" ý là khi nào H có ma túy thì sẽ bán cho N1. Ngay sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương phối hợp với Công an xã TV phát hiện bắt quả tang. Thu giữ 1 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 1 lọ nhựa màu trắng hình trụ cao 15cm, đường kính 6cm, trên nắp có gắn 1 ống hút bằng nhựa và 1 coóng thủy tinh một đầu có bầu hình tròn bên trong có bám dính chất bột màu trắng), 1 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (2 x 2,5)cm bên trong có bám dính chất bột màu trắng, 1 bật lửa ga màu tím, số tiền 400.000 đồng; Quản lý của Nguyễn Văn N 1 xe mô tô nhãn hiệu Wave α BKS 34K4 - 5807.
Kết quả xét nghiệm phát hiện ma túy trong nước tiểu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương lập ngày 14/10/2022 xác định: H, N,H1, N1 dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 551/KL-KTHS ngày 16/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính trong coóng thủy tinh và trong túi nilon màu trắng thu giữ của Vũ Công H gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Hoàn lại đối tượng giám định: 1 coóng thủy tinh, 1 vỏ túi nilon màu trắng, 1 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật.
Methamphetamine - STT 247, Mục IC, Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 17 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang đã truy tố Vũ Công H về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn N về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố:
Bị cáo Vũ Công H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Mua bán trái phép chất ma túy;
Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 và khoản 5 Điều 255; Điều 55; khoản 2, 3 Điều 35; Điều 17, Điều 58; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Công H từ 8 năm 6 tháng đến 9 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Công H từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Tổng hợp hình phạt tù của 2 tội, buộc bị cáo Vũ Công H phải chấp hành hình phạt chung là từ 11 năm đến 12 năm tù, tính từ ngày bị tạm giữ 14/10/2022.
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Công H 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17, Điều 58; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Năm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 07 năm 6 tháng đến 8 năm tù, tính từ ngày bị tạm giữ 14/10/2022.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án.
Về vật chứng: Tịch thu số tiền 400.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy 1 coóng thủy tinh, 1 vỏ túi nilon màu trắng, 1 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật; 1 lọ nhựa màu trắng hình trụ cao 15cm, đường kính 6cm, trên nắp có gắn 1 ống hút bằng nhựa; 01 bật lửa ga màu tím.
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, H khai nhận đã cung cấp ma túy, mời N sử dụng ma túy tại nhà bị cáo; Khi anhH1 đến, đã đồng ý choH1 sử dụng ma túy tại nhà bị cáo, bị cáo đã bảo bị cáo N lấy dụng cụ sử dụng ma túy choH1 sử dụng và theo ý kiến của H bị cáo N đã lấy coóng, cho ma túy vào coóng, hớ nóng ma túy choH1 sử dụng. Sau khiH1 sử dụng xong, H có nhìn thấy Đỗ Văn N1 và bị cáo N cũng sử dụng ma túy từ coóng và bị cáo H không ngăn cản, mà đồng ý để cho họ sử dụng ma túy tại nơi ở của mình; Bị cáo N khai nhận đã cùng sử dụng ma túy với H do H mời. Sau khiH1 và N1 đến, bị cáo lấy cóong theo lời của H để choH1 sử dụng ma túy, sau đó bị cáo N và anh N1 cũng sử dụng ma túy trong cóong. Nội dung cụ thể của lời khai bị cáo H và N về diễn biến của việc các bị cáo cùng những người khác sử dụng ma túy cơ bản như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả. Các bị cáo cũng đồng ý với nội dung kết luận giám định; đồng ý với truy tố của Viện kiểm sát về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Riêng bị cáo H, tại phiên tòa không thừa nhận đã thực hiện hành vi bán ma túy choH1, nhận tiền mua ma túy của anh Đỗ Văn N1, mà cho rằng khoản tiền 200.000 đồng của anhH1 là tiền góp vào để được sử dụng ma túy.
Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại giai đoạn điều tra đã khai chứng kiến các sự việc liên quan đến vụ án như sau:
AnhH1 khai: Vào ngày 14/10/2022, anh mua ma túy của H để sử dụng cho bản thân và được H cho sử dụng ma túy tại nơi ở của H. Bị cáo N là người chuẩn bị cóong, đổ ma túy vào cóong và châm lửa hơ nóng ma túy cho anh hút, sau đó anh bị say ma túy nên nhắm mắt lại và không biết việc N và N1 tự ý lấy ma túy thừa trong coóng để sử dụng.
Anh Đỗ Văn N1 khai: ngày 14/10/2022, anh có chứng kiến việc H bán ma túy choH1 với giá 200.000 đồng và đồng ý choH1 sử dụng ma túy tại nhà H. H bảo bị cáo N lấy cóong choH1 sử dụng ma túy, bị cáo N làm theo, lấy cóong, hơ nóng ma túy choH1 sử dụng. Sau khiH1 sử dụng ma túy và bị say, nhắm mắt thì bị cáo N và anh N1 tự ý lấy ma túy còn thừa của anhH1 sử dụng. Ngoài ra anh N1 còn đưa 200.000 đồng cho H để mua ma túy của H, mục đích để sử dụng, nhưng H không còn ma túy, nên H cầm tiền, khi nào có ma túy thì sẽ đưa cho N1.
Anh Vũ Công T khai anh được trực tiếp chứng kiến sự việc Cơ quan Công an kiểm tra, bắt quả tang việc sử dụng ma túy tại nhà bị cáo H, tình tiết sự việc như nêu trên. Cơ quan công an lập biên bản, thu giữ và niêm phong vật chứng. Đối với H khi bị lập biên bản, anh có nghe thấy H khai nhận việc bán ma túy choH1 và khai các tình tiết khác. Nội dung tình tiết cụ thể của sự việc phát hiện, thu giữ vật chứng như được nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo H phù hợp một phần với lời khai của bị cáo Năm, phù hợp một phần với lời khai của người làm chứng và phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và tài liệu chứng cứ khác; Lời khai của bị cáo N phù hợp một phần với lời khai của bị cáo H, phù hợp hoàn toàn với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và tài liệu chứng cứ khác
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 14/10/2022, tại thôn B, xã TV, huyện B, tỉnh Hải Dương, Vũ Công H có hành vi dùng nhà ở của mình, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy (cóong, bật lửa) mời Nguyễn Văn N sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Đến hơn 14 giờ 30 phút cùng ngày, H có hành vi đồng ý, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy đểH1, Đỗ Văn N1, bị cáo Nguyễn Văn N sử dụng ma túy (loại Methamphetamine) trái phép tại nhà của H.
Bị cáo Nguyễn Văn N có hành vi lấy cóong của H và cho ma túy vào cóong, châm lửa hơ nóng ma túy để choH1 sử dụng, sau đó cho chính bị cáo N và anh Đỗ Văn N1 sử dụng ma túy còn lại củaH1 trong coóng.
Mặc dù tại phiên tòa, bị cáo H không thừa nhận đã bán ma túy choH1 và nhận tiền mua ma túy của Đỗ Văn N1, nhưng Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai của bị cáo H tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản lấy lời khai, các biên bản hỏi cung bị can, các bản tự khai của bị cáo ở nhiều thời điểm khác nhau, nhiều địa điểm lấy lời khai khác nhau, với nhiều cơ quan/người tiến hành tố tụng khác nhau trong giai đoạn điều tra, truy tố đều thống nhất thừa nhận việc bị cáo có bán ma túy cho anh H1 được 200.000 đồng và bị cáo có nhận 200.000 đồng của anh Đỗ Văn N1 với mục đích sẽ bán ma túy cho anh N1 khi nào bị cáo có ma túy. Trong các lời khai, bị cáo đều thừa nhận là khai báo tự nguyện, không bị ép cung, bức cung, bản thân bị cáo không có bất cứ khiếu nại nào đối với các hoạt động tố tụng. Những lời khai đó của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo Năm, những người làm chứng trong vụ án. Chỉ đến phiên tòa bị cáo mới thay đổi lời khai, nhưng không lý giải được tại sao bị cáo lại thay đổi lời khai so với giai đoạn điều tra, truy tố mà chỉ khẳng định rằng lời khai tại phiên tòa là đúng sự thật. Như vậy, không có căn cứ chấp nhận việc thay đổi lời khai của bị cáo tại phiên tòa, mà khẳng định lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố là phản ánh đúng sự thật của vụ án.
Do vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/10/2022, bị cáo H đã bán trái phép ma túy choH1, loại Methamphetamine, được 200.000 đồng, sau đó còn nhận tiền mua ma túy đặt trước của Đỗ Văn N1 200.000 đồng.
Các hành vi nêu trên của các bị cáo H, N1 nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng chất ma tuý vào các mục đích chữa bệnh. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhưng vẫn thực hiện là có lỗi cố ý. Do vậy, hành vi của bị cáo H đã phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo N đã phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Trong hành vi đồng phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, H giữ vai trò chính cung cấp ma túy, địa điểm, công cụ sử dụng ma túy; còn N giữ vai trò giúp sức cho việc Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
. Về nhân thân:
Đối với bị cáo H:
Tại Bản án số 13 ngày 21/4/2009, TAND huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông, bị cáo H bị xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. H chấp hành xong hình phạt tù của bản án ngày 16/9/2009. Kết quả xác minh của cơ quan điều tra cho thấy do Tòa án huyện huyện Đắk R'lấp không chuyển bản án cho cơ quan thi hành án dân sự để thi hành phần án phí của bị cáo, bị cáo chưa chấp hành, nhưng tính đến ngày phạm tội lần này đã hết thời hiệu thi hành án phí theo quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự, do vậy xác định tại thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã được xóa án tích.
Ngày 18/7/2016, Công an huyện Bình Giang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình thi hành quyết định xử phạt, cơ quan Công an xác minh bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nên từ năm 2016 không tiếp tục cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt. Do vậy, đã đủ thời gian để xác định đến thời điểm phạm tội lần này, bị cáo được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, bị cáo thuộc trường hợp có nhân thân xấu.
Đối với bị cáo Năm: có nhân thân tốt, chưa từng phạm tội, chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, các bị cáo H, N thành khẩn khai báo nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo H không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo H, N đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vị trí vai trò của các bị cáo trong đồng phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù ở mức nghiêm đối với bị cáo H (đối với cả 2 tội) và cần áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt tù của 2 tội, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt tù chung; đối với bị cáo N cần áp dụng hình phạt tù ở mức tương xứng;
Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo H, cần phạt tiền bổ sung bị cáo; đối với tội Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo H không xác định được khối lượng ma túy đã bán, nên không phạt tiền bổ sung.
Xét bị cáo N có vai trò sau trong đồng phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không phạt tiền bổ sung.
. Về vật chứng:
Số tiền 400.000 đồng là do bị cáo H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy mà có, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
1 coóng thủy tinh, 1 vỏ túi nilon màu trắng, 1 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật; 1 lọ nhựa màu trắng hình trụ cao 15cm, đường kính 6cm, trên nắp có gắn 1 ống hút bằng nhựa; 01 bật lửa ga màu tím là công cụ thực hiện tội phạm, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô BKS 34K4 - 5807, ngày 05/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Ng (chủ sở hữu hợp pháp) là phù hợp.
. Về án phí: Các bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Đối với anh Đỗ DanhH1 mua ma túy của H sử dụng cho bản thân, không có ý định cung cấp ma túy cho người khác sử dụng, sau khi sử dụng ma túy xong anhH1 nằm say ma túy, không biết việc anh Đỗ Văn N1 và bị cáo Nguyễn Văn N tự ý lấy ma túy sử dụng, nên hành vi của anhH1 không có dấu hiệu tội phạm; Các thành viên khác trong gia đình H không không biết sự việc phạm tội của H, nên không có căn cứ xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H, Năm,H1, N1, ngày 04/02/2023 Công an huyện Bình Giang đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Quá trình điều tra, H khai ma túy của H có được là do nhận từ anh Nguyễn Bá Thiên, tuy nhiên kết quả đối chất, điều tra không có đủ căn cứ khẳng định lời khai của H là đúng sự thật, nên không có căn cứ xử lý đối với anh Thiên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Vũ Công H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Mua bán trái phép chất ma túy;
Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 và khoản 5 Điều 255; Điều 55; khoản 2, 3 Điều 35; Điều 17, Điều 58; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Công H 8 năm 6 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Công H 2 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Tổng hợp hình phạt tù của 2 tội, buộc bị cáo Vũ Công H phải chấp hành hình phạt chung là 11 (mười một) năm tù, tính từ ngày bị tạm giữ 14/10/2022.
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Công H 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17, Điều 58; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 07 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù, tính từ ngày bị tạm giữ 14/10/2022.
Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án.
Về vật chứng: Tịch thu số tiền 400.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy 1 coóng thủy tinh, 1 vỏ túi nilon màu trắng, 1 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật; 1 lọ nhựa màu trắng hình trụ cao 15cm, đường kính 6cm, trên nắp có gắn 1 ống hút bằng nhựa; 01 bật lửa ga màu tím.
Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang theo biên bản giao nhận giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang ngày 24/02/2023.
Buộc mỗi bị cáo Vũ Công H, Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND huyện Bình Giang - Cơ quan CSĐT CA huyện Bình Giang; - Chi cục THADS huyện Bình Giang; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bộ phận HSNV CA huyện Bình Giang; - Bị cáo; - Lưu HSVA; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Cường |