- Tranh chấp gì? án hình sự — "“Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tăng Thái T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HS-ST Ngày 12 – 01 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Dòn
2. Ông Lê Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kiều Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 288/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tăng Thái T (tên gọi khác: K), giới tính: N; sinh năm 1990 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: Ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở trước khi bị bắt: F10/11A Ấp F, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 04/12; dân tộc: Khơ - me; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tăng Hữu T1 và bà Quách Thị Mỹ H; bị cáo có vợ và 01 người con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2022.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phan Minh T2, sinh năm: 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: E ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 05/10/2022, Tăng Hữu H1 điều khiển xe máy biển số 49D1-217.04 chở bị cáo Tăng Thái T (anh ruột của H1) về phòng trọ địa chỉ F Ấp F, xã L, huyện B. Trên đường đi do bị cáo T muốn sử dụng ma túy đá nên khi gần đến bãi đất trống kế địa chỉ B T, Ấp B, xã T huyện B, bị cáo T nói H1 dừng xe lại đứng chờ bị cáo T đi công việc. Sau đó, bị cáo T một mình đi bộ đến chòi trên bãi đất trống kế địa chỉ B T, Ấp B, xã T, huyện B gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) mua 01 gói nylon chứa ma túy đá với giá 300.000 đồng, rồi quay ra ngồi sau xe máy để H1 chở về. Khi H1 điều khiển xe máy chở bị cáo T đi đến trước địa chỉ A, ấp A, xã T, huyện B thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý phối hợp Công an xã T, huyện B trên đường tuần tra phát hiện, nghi vấn nên yêu cầu ngừng xe, kiểm tra, thu giữ trên tay phải của bị cáo T 01 gói giấy màu xanh lá cây bên trong có 01 gói nylon được hàn kín chứa tinh thể không màu, bị cáo T khai nhận là ma túy đá, mua về để sử dụng cho bản thân, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập hồ sơ ban đầu rồi chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xử lý.
Qua kiểm tra ma túy đối với bị cáo Tăng Thái T cho kết quả dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, bị cáo Tăng Thái T khai nhận sự việc như đã nêu trên. Đồng thời, bị cáo T khai nhận việc bị cáo T mua, cất giữ ma túy trên người không bàn bạc hay nói cho H1 biết.
Tăng Hữu H1 khai nhận phù hợp với bị cáo Tăng Thái T, không biết việc bị cáo T mua ma túy để sử dụng. Kết quả kiểm tra ma túy đối với H1 cho kết quả âm tính nên H1 không đồng phạm đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo Tăng Thái T. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không xử lý đối với H1.
Tại kết luận giám định số 5678/KL-KTHS ngày 12/10/2022 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu, được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,2552g (không phẩy hai năm năm hai gam), loại Methamphetamnie.
Vật chứng thu giữ của bị cáo Tăng Thái T gồm:
- 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy rắn loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2552g.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 49D1-217.04, số khung RLCS5C640-9Y123056, số máy 5C64-123055, được T khai nhận mua của một người không rõ lai lịch để làm phương tiện đi làm. Kết quả xác minh, xe do ông Phan Minh T2 đứng tên chủ sở hữu. Ông T2 khai đã bán xe cho người tên K (không rõ lai lịch) vào năm 2017 nên không có yêu cầu gì. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có ai liên hệ làm việc.
- 01 mảnh giấy màu xanh lá cây sử dụng cất giấu ma túy.
- 01 đĩa ghi âm – ghi hình Tăng Thái T thừa nhận hành vi phạm tội (vật chứng lưu giữ cùng hồ sơ vụ án).
Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 22/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố đúng, không oan, sai; bị cáo rất ăn năn hối hận; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo Tăng Thái T phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận vào ngày 05/10/2022, bị cáo Tăng Thái T đã thực hiện hành vi cất giữ một gói nylon hàn kín chứa tinh thể không màu qua giám định có khối lượng 0,2552g loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang trước địa chỉ nhà A ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù, biết pháp luật cấm tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để có ma túy sử dụng mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước, mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội và các loại tội phạm khác.
. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tăng Thái T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo do chưa rõ lai lịch, nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra cần tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
. Đối với Tăng Hữu H1 không biết, không nghiện ma tuý và không liên quan đến việc bị cáo T mua ma túy để sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B không xử lý Hào với vai trò đồng phạm.
. Về xử lý vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy rắn loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2552g và 01 (một) mảnh giấy màu xanh lá cây sử dụng cất giấu ma túy. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 49D1-217.04, số khung RLCS5C640-9Y123056, số máy 5C64-123055, được T khai nhận mua của một người không rõ lai lịch để làm phương tiện đi làm. Kết quả xác minh, xe do ông Phan Minh T2 đứng tên chủ sở hữu. Ông T2 khai đã bán xe cho người tên K (không rõ lai lịch) vào năm 2017. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự huyện B tiếp tục đăng báo thông tin chủ sở hữu theo quy định, hết thời hạn thông báo mà không có chủ sở hữu liên hệ thì tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.
- 01 (một) đĩa ghi âm – ghi hình Tăng Thái T thừa nhận hành vi phạm tội tiếp tục lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng. Hội đồng xét xử cũng chấp nhận ý kiến của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Tăng Thái T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Tăng Thái T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2022.
3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy rắn loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2552g và 01 (một) mảnh giấy màu xanh lá cây sử dụng cất giấu ma túy.
- Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 49D1-217.04, số khung RLCS5C640-9Y123056, số máy 5C64-123055 để Chi cục Thi hành án dân sự đăng báo truy tìm chủ sở hữu và giao trả theo quy định. Trường hợp hết thời hạn thông báo mà không truy tìm được chủ sở hữu thì tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 49D1-217.04, số khung RLCS5C640-9Y123056, số máy 5C64-123055.
Các vật chứng này hiện này đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ-VKS ngày 09/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/12/2022 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.
- Tiếp tục lưu giữ cùng hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa ghi âm – ghi hình Tăng Thái T thừa nhận hành vi phạm tội.
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TPHCM; (1) - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM; (1) - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh; (1) - Công an huyện Bình Chánh; (1) - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh; (1) - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an TPHCM; (1) - Sở Tư pháp TPHCM; (1) - Bị cáo; (1) - Đương sự; (1) - Lưu hs; (1) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tấn Việt |