vanban.org

Bản án 19/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Võ Thành L 18 (Mười tám) tháng tù giam, được tính kể từ ngày 09/9/2020 là ngày bị cáo bị bắt tạm giam. Tang vật vụ án: Đã giao trả cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 19/2021/HSST
Ngày: 26/01/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông L Thanh Điền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phƣớc Lộc

2. Bà Phạm Thị Kiếm

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Sơn Thái Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 154/2020/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo Võ Thành L, sinh năm 1976.

Nơi sinh: CP- AG.

Nơi ĐKTT: Ấp VT, thị trấn CD, huyện CP, tỉnh AG.

Chỗ ở: Khu phố 2, thị trấn AT, huyện PQ (nay là phường AT, thành phố PQ), tỉnh KG.

Quốc tịch: Việt Nam.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Hòa Hảo.

Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 02/12.

Cha: Võ Văn Bảy, sinh năm 1953, đã chết.

Mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1953, còn sống.

Bị cáo chưa có vợ.

* Tiền sự: chưa.

* Tiền án: 01 lần, ngày 12/8/2008 bị Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh AG xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản, ngày 16/7/2009 chấp hành xong hình phạt tù, đến nay chưa được xóa án tích do chưa đóng án phí.

Bị tạm giam từ ngày 09/09/2020 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại:

1/ Anh Lƣu Văn H, sinh năm 1995

2/ Anh Nguyễn Văn Nam S, sinh năm 1994

3/ Anh Vũ Quốc T, sinh năm 1991

Cùng địa chỉ: Kp 8, thị trấn AT, huyện PQ (nay là phường AT, thành phố PQ), tỉnh KG.

(Anh H, anh S, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi của bị cáo:

Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 18 giờ ngày 04/9/2020, Võ Thành L đi đến nhà ở của nhân viên Công ty HB tại số 153 đường Nguyễn Văn C, kp 8, thị trấn AT, huyện PQ, (nay là phường AT, thành phố PQ), tỉnh KG để trộm cắp tài sản. Khi đến địa chỉ nêu trên thấy nhà không đóng cửa, L lẻn vào bên trong, lên lầu 1 mở cửa phòng số 202 đi vào lấy trộm của anh Lưu Văn H: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS model FX503V, 02 điện thoại di động hiệu Nokia, model TA-1114 và TA-1034, 01 cái bóp da màu nêu không rõ hiệu bên trong có 670.000 đồng và 01 đồng hồ đeo tay bằng kim loại hiệu Casio. L tiếp tục đi lên lầu 2 mở cửa phòng số 303 đi vào bên trong lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 6S, 16GB của anh Nguyễn Văn Nam S. L tiếp tục đi sang phòng phía trước mở cửa phòng đi vào bên trong lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu AVIO, loại A6 và 01 hộp nhựa màu đen bên trong có 02 sợi dây đeo tay (01 sợi bằng vải nhiều màu sắc trên dây có gắn khối kim loại hình tròn màu vàng, 01 dây chuỗi đeo tay bằng đá màu nâu vàng trên dây gắn khối kim loại màu vàng xanh của anh Vũ Quốc T. Sau khi lấy trộm, L bỏ tất cả tài sản vào cái cặp màu đen lấy tại lầu 2 rồi đi xuống lầu 1 đi ra ngoài thì thấy có người đang ở dưới nhà nên L đi ngược lên lầu 2, đi vào phòng 303 tìm đường ra ngoài thì bị anh Lưu Văn H phát hiện và bắt giữ.

* Tang vật thu giữ:

- Tiền Việt Nam: 670.000 đồng;

- 01 máy tính xách tay hiệu ASUS màu đen, model FX503V (i7-7700HQ/ 8GD4/128GSSD/1T5SSHD/15.6FHD/BT4/4C64WHr/ĐEN/WIN10LS/4GD5_GTX 1050/LED_KB), đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: TA-1114; Imei1: 354176101631885, Imei2: 354176101631882, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: TA-1034; Imei1: 354481090656582, Imei2: 354481090656587, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu AVIO màu đen, Model: A6; Imei: 353157783057707, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu Apple màu vàng hồng, loại Iphone 6S, 16GB; Imei: 353310074051547, số máy MKQM2VN/A, đã qua sử dụng;

- 01 đồng hồ đeo tay hiệu Casio, dây kim loại màu trắng, Model: MTP-1302, đã qua sử dụng;

- 01 bóp (ví) da màu nâu, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;

- 01 hộp nhựa màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;

- 01 dây chuỗi hạt đá màu nâu vàng (14 hạt), trên dây có một khối kim loại màu vàng xanh, đã qua sử dụng;

- 01 dây đeo tay bằng vải nhiều màu sắc, trên dây có một khối kim loại tròn màu vàng, đã qua sử dụng.

Tất cả các tài sản trên đã trao trả cho chủ sở hữu.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS, ngày 16/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện PQ (nay là thành phố PQ) kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS màu đen, model FX503V trị giá 9.166.666 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: TA-1114 trị giá 100.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: TA-1034 trị giá 100.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu AVIO màu đen, Model: A6 trị giá 100.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Apple màu vàng hồng, loại Iphone 6S 16GB trị giá 1.166.666 đồng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Casio, Model: MTP-1302 trị giá 566.666 đồng. Tổng giá trị tài sản là 11.199.998 đồng (làm tròn 11.200.000 đồng).

Riêng đối với 01 cái ví da màu nâu, 01 hộp nhựa màu đen, 01 dây chuỗi hạt đá màu nâu vàng (14 hạt), trên dây có 01 khối kim loại màu vàng xanh, 01 dây đeo tay bằng vải nhiều màu sắc, trên dây có một khối kim loại màu vàng, các tài sản trên không rõ nhãn hiệu, không đầy đủ thông tin nên không xác định được giá trị (Bút lục 51).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá tài sản huyện PQ (nay là thành phố PQ).

Cáo trạng Viện kiểm sát:

Tại bản cáo trạng số 156/CT-VKSPQ, ngày 27 tháng 11 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện PQ (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ) đã truy tố bị cáo Võ Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Võ Thành L từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lưu Văn H, anh Nguyễn Văn Nam S, anh Vũ Quốc T không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Võ Thành L thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của người khác là sai và vi phạm pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tất cả 03 người bị hại đều xin được xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện PQ (nay là Cơ quan điều tra công an thành phố PQ), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện PQ (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự và không bị khiếu nại. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Võ Thành L thừa nhận vào khoảng 18 giờ ngày 04/9/2020, Võ Thành L đi đến nhà ở của nhân viên Công ty HB trực tiếp trộm cắp tài sản tại số 153 đường Nguyễn Văn C, kp 8, thị trấn AT, huyện PQ (nay là phường AT, thành phố PQ), tỉnh KG để trộm cắp tài sản. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như lời khai của người bị hại có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Võ Thành L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Võ Thành L đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 11.870.000 đồng (Mười một triệu, tám trăm bảy mươi nghìn đồng) đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, đây là các hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm để đủ sức răn đe và phòng ngừa với loại tội phạm này.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS;

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Võ Thành L có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ để xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Về các vấn đề khác:

Về tang vật vụ án:

- Tiền Việt Nam: 670.000 đồng;

- 01 máy tính xách tay hiệu ASUS màu đen, model FX503V (i7-7700HQ/ 8GD4/128GSSD/1T5SSHD/15.6FHD/BT4/4C64WHr/ĐEN/WIN10LS/4GD5_GTX 1050/LED_KB), đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: TA-1114; Imei1: 354176101631885, Imei2: 354176101631882, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: TA-1034; Imei1: 354481090656582, Imei2: 354481090656587, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu AVIO màu đen, Model: A6; Imei: 353157783057707, đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động hiệu Apple màu vàng hồng, loại Iphone 6S, 16GB; Imei: 353310074051547, số máy MKQM2VN/A, đã qua sử dụng;

- 01 đồng hồ đeo tay hiệu Casio, dây kim loại màu trắng, Model: MTP-1302, đã qua sử dụng;

- 01 bóp (ví) da màu nâu, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;

- 01 hộp nhựa màu đen, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng;

- 01 dây chuỗi hạt đá màu nâu vàng (14 hạt), trên dây có một khối kim loại màu vàng xanh, đã qua sử dụng;

- 01 dây đeo tay bằng vải nhiều màu sắc, trên dây có một khối kim loại tròn màu vàng, đã qua sử dụng.

Tất cả đều giao trả cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lưu Văn H ; Anh Nguyễn Văn Nam S và anh Vũ Quốc T đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ pháp luật: Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

2. Tuyên bố: Bị cáo Võ Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Võ Thành L 18 (Mười tám) tháng tù giam, được tính kể từ ngày 09/9/2020 là ngày bị cáo bị bắt tạm giam.

3. Tang vật vụ án: Đã giao trả cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

4. Trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lưu Văn H; Anh Nguyễn Văn Nam S và anh Vũ Quốc T đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

5. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Án xử công khai báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Người bị hại vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh KG xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ