vanban.org

Bản án 19/2020/HS-ST — Hình sự

TAND thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 04/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2020/HS-ST
Ngày: 04 – 8 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Danh Lươl

Bà Lê Thị Mỹ Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2020, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

- Trịnh Đắc Tr - sinh năm 1974 tại huyện G, tỉnh Kiên Giang; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: ấp 10, xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch Việt Nam; Họ và tên cha: Trịnh Khảo H, sinh năm: 1948 (còn sống); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1950 (còn sống); Anh, chị, em ruột: 07 người (lớn nhất 49 tuổi, nhỏ nhất sinh năm 1984); Vợ: Lê Thị Ng, sinh năm 1973 (đã ly hôn); Hiện đang sống chung như vợ chồng với bà Trịnh Ngọc Đ, sinh năm 1985; Con: 02 người (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2007); Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự về hành vi “dùng địa điểm khác để chứa bạc”. Ngày 15/01/2019 bị Ủy ban nhân dân huyện Long Mỹ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng, đến ngày 25/5/2020 mới chấp hành xong, chưa được xóa tiền sự.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Tấn T, sinh năm 1988; cư trú tại: ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; cư trú tại: ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

3. Anh Lưu Văn D, sinh năm 1976; cư trú tại: ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

4. Anh Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1993; cư trú tại: ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

5. Anh Trần Quốc T, sinh năm 1987; cư trú tại: ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

6. Ông Lý Văn L, sinh năm 1968; cư trú tại: ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

7. Anh Lê Thanh Tuấn, sinh năm 1976; cư trú tại: ấp 8, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

8. Anh Trần Mỹ S, sinh năm 1979; cư trú tại: ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

9. Anh Nguyễn Hoàng Kh, sinh năm: 1980; cư trú tại: ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

10. Anh Trịnh Đắc Th, sinh năm: 1990; cư trú tại: ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

11. Anh La Thanh Tr, sinh năm: 1999; cư trú tại: ấp 7, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

12. Anh Huỳnh Văn Đ, sinh năm: 1988; cư trú tại: ấp 2, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 23/01/2020, Trịnh Đắc Tr, sinh năm 1974, ĐKTT: ấp 10, xã L, huyện L đang uống cà phê cùng với Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 ngụ cùng ấp thì có một người nam lạ mặt (chưa xác định được nhân thân lai lịch) điện thoại cho Tr nói “có gà 2,9kg đá độ 1.200.000đ” thì Tr nói “để nào có cho hay”, một lúc sau Tr điện thoại cho Nguyễn Tấn T, sinh năm 1988 cũng ở ấp 10, xã L hỏi “có gà khoảng 2,9 kg không đem xuống đá”, T nói “có” nên Tr mới cáp kèo cho gà của T và gà của người nam lạ mặt đá với nhau. Đến khoảng 11 giờ tất cả đến địa điểm đã hẹn trước, Tr cân gà và phát băng keo cho 02 bên chủ gà, cựa sắt do chủ gà tự chuẩn bị. Gà của T là gà nòi màu vàng nặng 3,05kg, gà của người nam lạ mặt là gà màu đen nặng 3,170 kg, do gà đen nặng hơn nên chấp đá với tỷ lệ 10 ăn 8, bên thua phải trả cho Tr 200.000 đồng tiền xâu. Gà của T do Tài tự băng cựa và thả gà còn bên gà đen do T băng cựa và thả gà dùm cho người nam lạ mặt nếu thắng Tsẽ được cho tiền uống cà phê. Sau đó, T và người nam lạ mặt (chủ con gà đen) thỏa thuận đá độ gà này là 9.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong hai bên thả gà cho đá với nhau.

Đến 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi gà đang đá chưa phân thắng thua thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp cùng Công an xã L bắt quả tang tụ điểm đá gà ăn thua bằng tiền này tại khu đất trống thuộc ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Vật chứng thu giữ:

+ 02 con gà trống (loại gà nòi)

+ 04 cây cựa sắt

+ 04 cuộn băng keo đã qua sử dụng

+ 01 cân đồng hồ loại 05kg

+ 06 xe mô tô các loại

+ Các đối tượng tự giao nộp số tiền Việt Nam 17.044.000 đồng (Trong đó: Trần Mỹ S 20.000 đồng, Nguyễn Hoàng Kh 8.340.000 đồng, Trần Quốc T 2.184.000 đồng, Lê Thanh T 5.930.000 đồng, Lưu Văn D 520.000 đồng, Huỳnh Văn Đ 50.000 đồng) và 06 điện thoại di động các loại.

Qua điều tra, Cơ quan điều tra đã chứng minh được những đối tượng tham gia đá gà ăn tiền gồm:

- Bên gà của T có T tham gia 2.400.000 đồng, Đ tham gia 800.000 đồng, D tham gia 160.000 đồng, số tiền còn lại chưa xác định được đối tượng tham gia.

- Bên gà của người lạ mặt (không biết chủ gà) thì T tham gia 500.000 đồng, số tiền còn lại chưa xác định được đối tượng tham gia.

Những người tham gia đá hàng sáo bên ngoài gồm:

Trần Quốc T theo gà đen đá hàng xáo với người lạ mặt 200.000 đồng, Lê Thanh T theo gà vàng đá hàng xáo với người lạ mặt 80.000 đồng, Lý Văn L theo gà vàng đá hàng xáo với người lạ mặt 80.000 đồng.

Còn lại Th, S, Kh, K và Đ không tham gia đá gà.

Qua điều tra đã xác định được điểm đá gà trên do Trịnh Đắc Tr đứng ra tổ chức để thu tiền xâu, Tr là người chuẩn bị cân đồng hồ, băng keo và trực tiếp làm trọng tài phân xử thắng thua. Vào ngày 23/01/2020, Tr mới tổ chức được 01 độ gà chưa phân thắng thua thì bị bắt quả tang nên Tr chưa thu được tiền xâu.

Trịnh Đắc Tr có 01 tiền sự về hành vi “dùng địa điểm khác để chứa bạc” bị UBND huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 7.500.000 đồng vào ngày 15/01/2019, đến ngày 25/5/2020 Tr mới chấp hành việc nộp phạt nên chưa được xóa tiền sự.

Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiêu hủy 02 con gà trống.

- Trả cho chủ sở hữu: 06 điện thoại di động các loại; 06 xe mô tô các loại.

- Đối với số tiền 17.044.000 đồng đang bảo quản tại Kho bạc nhà nước huyện L, tỉnh Hậu Giang được Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ xử lý vi phạm hành chính và trả lại cho những người không tham gia đá gà.

- Nhập kho vật chứng thuộc Công an huyện L gồm 04 cây cựa sắt, 01 cân đồng hồ loại 05kg, 04 cuộn băng keo đã qua sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS-HLM ngày 30/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Trịnh Đắc Tr về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện L đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Đắc Tr phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Trịnh Đắc Tr mức án từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 04 cây cựa sắt, 01 cân đồng hồ loại 05kg, 04 cuộn băng keo đã qua sử dụng là công cụ trong vụ án, không còn giá trị sử dụng.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và thống nhất quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, không trình bày tranh luận đối đáp gì, nhưng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn T, Nguyễn Văn T, Lưu Văn D, Nguyễn Hoàng Đ, Trần Quốc T, Lý Văn L, Lê Thanh T, Trần Mỹ S, Nguyễn Hoàng Kh, La Thanh Tr đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, tuy nhiên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên đã được cơ quan điều tra công an huyện L ghi lời khai, nếu xét thấy cần thiết trong quá trình xét xử hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai tại phiên tòa. Do đó, việc vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên.

[2.] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 23/01/2020, tại khu vực đất trống thuộc ấp 10, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang Trịnh Đắc Tr thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc bằng hình thức đá gà ăn tiền. Tr chuẩn bị cân đồng hồ, băng keo, trực tiếp làm trọng tài phân xử thắng thua và thu tiền xâu. Đá độ 1.200.000 đồng thì Tr thu tiền sâu 200.000 đồng. Tr mới tổ chức 01 độ gà cho Gà của Nguyễn Tấn T đá với gà của người nam lạ mặt (chưa xác định nhân thân lai lịch) với tỷ lệ 10 ăn 8. Khi gà đang đá chưa phân thắng thua thì bị Công an huyện L bắt quả tang. Tr chưa thu được tiền xâu. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Trịnh Đắc Tr có 01 tiền sự về hành vi “dùng địa điểm khác để chứa bạc” chưa được xóa tiền sự. Do đó, hành vi của Trịnh Đắc Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 theo như cáo trạng số 18/CT-VKS-HLM ngày 30/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang đã truy tố đối với bị cáo là đúng người đúng tội đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thật thà, thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo Trịnh Đắc Tr có bà nội là mẹ Việt Nam anh hùng, bác ruột là liệt sĩ, cha là hội viên hội cựu chiến binh nên cần xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

. Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “dùng địa điểm khác để chứa bạc” bị UBND huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 7.500.000 đồng vào ngày 15/01/2019, đến ngày 25/5/2020 Tr mới chấp hành việc nộp phạt nên chưa được xóa tiền sự nhưng đây thuộc tình tiết được quy định là dấu hiệu định tội nên không áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều tệ nạn tiêu cực khác cho xã hội. Bị cáo là người đầy đủ năng lực, có sức khỏe để lao động chân chính tạo ra của cải vật chất làm giàu cho bản thân, nhưng trái lại bị cáo không chí thú làm ăn, mà vì do hám lợi mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Nên cần phải áp dụng một mức án tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo gây ra nhằm có đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, để làm căn cứ quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần đánh giá vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Ngoài ra, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian bị cáo được tại ngoại luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và chính quyền địa phương. Mặc khác, đối với tội phạm “Tổ chức đánh bạc” bị cáo dùng tài sản là tiền làm công cụ để thực hiện hành vi phạm tội và điều luật có quy định phạt tiền là hình phạt chính. Hơn nữa, thông qua hình thức phạt tiền thể hiện được tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; qua đó giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền là phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp đối với loại tội phạm này. Do đó, sau khi xem xét tính chất, mức độ phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời để bị cáo tự nhận thức hành vi của mình mà có hướng khắc phục trở thành công dân có ích cho xã hội.

. Từ những phân tích trên, xét toàn diện tính chất vụ án và xét lời luận tội của kiểm sát viên tham gia phiên tòa và mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Đối với Nguyễn Tấn T, Nguyễn Hoàng Đ, Lưu Văn D, Nguyễn Văn T, Trần Quốc T, Lê Thanh T, Lý Văn L không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc và tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L chuyển xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định.

Đối với các đối tượng lạ mặt tham gia đánh bạc nhưng chưa xác định nhân thân lai lịch đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với Trần Mỹ S, Trịnh Đắc Th, Nguyễn Hoàng Kh, Quách K, Huỳnh Văn Đ đến xem chứ không tham gia đánh bạc; Đối với ông Lâm Thành Ch (Tr) mắc bệnh tâm thần, trí tuệ không minh mẫn nên ông Chí(Tr) không biết việc Trịnh Đắc Tr sử dụng phần đất của mình để tổ chức đánh bạc. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không xem xét xử lý là có căn cứ.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 04 cây cựa sắt, 01 cân đồng hồ loại 05kg, 04 cuộn băng keo đã qua sử dụng là công cụ trong vụ án, không còn giá trị sử dụng.

. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trịnh Đắc Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đắc Tr phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Áp dụng: điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trịnh Đắc Tr 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng).

Hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy 04 (bốn) cây cựa sắt, 01(một) cân đồng hồ loại 05kg, 04 (bốn) cuộn băng keo đã qua sử dụng là công cụ trong vụ án, không còn giá trị sử dụng.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKS-HLM, ngày 01/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức án phí, lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Trịnh Đắc Tr phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo biết có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 04/8/2020). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ