- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Anh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2020/HS-ST Ngày: 26/6 /2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
2. Ông Nguyễn Thành Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa:
Ông Võ Nhựt Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít
xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 14/2020/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Anh K, sinh năm: 1972, tại thị trấn Long Hồ, huyện Long Hồ.
Nơi cư trú: Khóm 6, thị trấn Long Hồ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long;
nghề nghiệp: không; trình độ học vấn 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Mọi (chết) và bà Trần Thị Rộ; vợ Trần Thị Thanh Tâm (chết) và 01 người con.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Minh Trung, sinh năm: 1970 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Thân Bình, xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Lê Thị Duyên, sinh
năm: 1954, nơi cư trú: ấp Phước Lộc A, xã Bình Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Người làm chứng:
1. Lê Thị Hà, sinh năm: 1960 (vắng mặt)
2. Trần Ngọc Thơ, sinh năm: 1980 (Vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: ấp Phước Lộc A, xã Bình Phước, huyện Mang Thít, tỉnh
Vĩnh Long.
3. Nguyễn Văn Phước, sinh năm: 1961 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Thân Bình, xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 15/10/2019 bị cáo Trần Anh K đến nhà ông
Nguyễn Văn Phước (Bảy Bò) để uống rượu. Trong lúc uống rượu thì bị cáo K có quen biết được Võ Tấn Đạt. Sau khi nhậu xong K cùng Đạt đi bộ ngang tiệm sửa xe A Trung của anh Nguyễn Minh Trung tại ấp Thân Bình, xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long phát hiện trong khu vực tiệm sửa xe có 03 xe môtô và 01 xe ba gác, trong đó xe môtô biển số 64G1-196.14 có gắn sẵn chìa khóa trên xe không ai trông coi nên cả hai lén lút dẫn xe môtô ra ngoài đường tỉnh 903, K điều khiển xe môtô chở Đạt ngồi phía sau hướng đi ra ngã ba Cái Nhum để tẩu thoát, nhưng khi đến dốc cầu số 01 thuộc địa phận xã Bình Phước, huyện Mang Thít thì xe môtô bị hết xăng nên K đi xe ôm ra cây xăng gần ngã ba Cái Nhum để mua xăng trước và kêu Đạt dẫn xe môtô đến sau. Khi Đạt dẫn xe môtô đến tiệm tạp hóa của bà Lê Thị Duyên ghé vào đổ xăng nhưng do không có tiền trả nên Đạt để xe môtô lại và bỏ đi.
Sau khi mua xăng xong K quay lại tìm Đạt nhưng không gặp nên tiếp tục đi
đến nhà Nguyễn Văn Phước uống rượu. Khi không thấy Đạt quay lại nên bà Duyên đã tố giác sự việc trên đến Cơ quan Công an đến tạm giữ phương tiện môtô biển số 64G1-196.14. Đến ngày 16/10/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít mời bị cáo Trần Anh K làm việc. Qua làm việc bị cáo K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 39/KLĐGTS ngày 21/10/2019 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mang Thít kết luận 01 chiếc xe môtô biển số 64G1-196.14, nhãn hiệu YAMAHA; loại xe hai bánh từ 50-175cm3, số loại Nouvo, dung tích xi lanh: 132cm3, màu sơn: Xám- Đeo- Đen; số máy 5P11134118; số khung: RLCN5P1109Y134118 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá là: 7.800.000đ.
Ngày 24/12/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Mang Thít ra
quyết định trưng cầu giám định số: 05/QĐ-CQCSĐT – CSHS trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa giám định pháp y về tâm thần đối với Võ Tấn Đạt. Kết luận giám định pháp y về tâm thần số: 72/KL-VPYTW ngày 10/02/2020 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận:
Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh chậm
phát triển tâm thần mức độ trung bình có tật chứng về hành vi tác phong đòi hỏi theo dõi và điều trị (F71.1- ICD.10).
Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự không có khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi.
Đối với Võ Tấn Đạt khi thực hiện hành vi lấy trộm xe môtô biển số 64G1-
196.14 cùng bị cáo Trần Anh K thì Đạt trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Ngày 14/02/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít ra
quyết định khởi tố đối với Trần Anh K về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc xe môtô biển số 64G1-196.14 Cơ quan
Cảnh sát điều tra Cong an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Minh Trung. Hiện anh Trung đã nhận lại tài sản xong và không yêu cầu bị cáo K bồi thường.
Đối với bà Lê Thị Duyên chủ tiệm tạp hóa, khi Võ Tấn Đạt dẫn xe đến bà đã
đổ vào xe môtô biển số 64G1-196.14 một lít xăng có giá 22.000đ. Anh Trung chủ xe môtô biển số 64G1-196.14 đã thay Đạt trả tiền cho bà Duyên xong, anh Trung không yêu cầu Võ Tấn Đạt phải trả lại số tiền này.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Anh K trình bày: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội
“Trộm cắp tài sản” là đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo xin Hội đồng xét cho bị cáo được hưởng án treo, do bản thân đang bị bệnh gan và nghiện rượu không có tiền tiêu xài nên trộm xe của anh Trung để bán lấy tiền tiêu xài, hiện anh Trung đã nhận lại xe và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 20 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Mang Thít đã truy tố bị cáo Trần Anh K, về tội “Trộm cắp tài sản” tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: sau khi nêu
hành vi phạm tội của bị cáo, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cuối cùng đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, 5 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54,
Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Anh K mức án từ 03 đến 06 tháng tù. Về tội “Trộm cắp tài sản”.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại, bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp
luật, bị cáo ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo ở nhà cai rượu.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận dịnh như sau:
Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra,
truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai
người bị hại, phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, như lời khai của những người tham gia tố tụng, biên khám nghiệm hiện trường. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Anh K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 của Bộ luật hình sự, như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành
vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác một cách trái pháp luật, bị cáo lợi dụng sơ hở của người bị hại lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi phạm phạm tội của bị cáo là
nguy hiểm, sau khi nhậu xong tại nhà ông Bảy Bò, bị cáo rủ Đạt đi bộ về nhà bị cáo chơi, trên đường đi từ nhà Bảy Bò đến chợ số 02 (đường tỉnh lộ 903), tới tiệm sửa xe A Trung của anh Nguyễn Minh Trung bị cáo phát hiện tiệm sửa xe có 03 chiếc xe môtô và 01 chiếc xe ba gác không có ai trông coi bị cáo kêu Đạt dẫn xe môtô biển số 64G1-196.14 (loại xe Nouvo) ra mặt đường để bị cáo điều khiển chở Đạt chạy theo hướng ngã ba Cái Nhum bán lấy tiền tiêu xài, đến dốc cầu số 01 thì xe hết xăng, bị cáo đi xe ôm chạy ra gần ngã ba Cái Nhum mua xăng và kêu Đạt dẫn xe đến sau. Đạt dẫn xe môtô đến tiệm tạp hóa của bà Lê Thị Duyên đổ xăng nhưng không có tiền trả Đạt để xe môtô lại và bỏ đi, Bị cáo K tìm Đạt nhưng không gặp nên tiếp tục đến nhà ông Nguyễn Văn Phước uống rượu tiếp. Khi thấy Đạt không quay lại bà Duyên tố giác sự việc đến Công an, qua làm việc bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo là người có năng lực hành vi, rủ rê Võ Tấn Đạt là người không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do đó cần xử lý nghiêm. Chiếc xe môtô biển số 64G1-196.14 bị cáo trộm được có giá trị 7.800.000đ, nên căn cứ theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, bổ sung năm 2017, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và
tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, phạm tội ít nghiêm trọng, người bị hại đã nhận lại tài sản, gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vị đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm là có căn cứ nên được
chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, 5 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54,
Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Anh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Anh K 03 (Ba) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị
bắt đi chấp hành bản án.
2. Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem
xét.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Anh K phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: AÙn xöû công khai sô thaåm, baùo cho bò caùo
biết, ñöôïc quyeàn khaùng caùo trong thôøi haïn 15 (Mười lăm) ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hay từ ngày niêm yết bản án tại chính quyền địa phương nơi cư trú./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nôi nhaän:
Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa
- TANDTVL;
- CA, VKS, THADS huyện Mang Thít;
- SỞ TP tỉnh Vĩnh Long;
- TG +BÒ CAÙO:
- BH, NLC;
- Lưu;
Huỳnh Thị Linh TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN
COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM HUYỆN MANG THÍT
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc TÆNH VÓNH LONG
BIEÂN BAÛN NGHÒ AÙN
TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN HUYỆN MANG THÍT
Vôiùthành phần Hoi ñä ongà xet xöù sûô thaåm gomà co:ù
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đinh Cường
2. Ông Nguyễn Văn Phẩm
Caên cö ñùieàu 199 vaø ñieàu 222 cuûa Boä luaät
toá tuïng hình s;öï
Vaøo ngaøy 04 thaùng 3 naêm 20 19 taïi phoøng nghò aùn, Hoäi ñoàng xeùt xö sûô thaåm ñaõ tieán
haønh nghò aùn ñoái vôi vuïù aùn:
Trần Quốc Đại, bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản”.
Caên cö vaøù o caùc chöng cöù vaøù taøi lieäu ñaõ ñöô
c thaåï m tra taïi phieân toaø, treân cô sô xemû xeùt ñaày ñuû toaøn dieän caùc chöng cöù , yùù kieán cuûa Kieåm saùt vieân,
(caùc) bò caùo, (ngöôi baøø o chöa) vaøõ nhöng ngöõ
ôi tham gia toáø
tuïng khaùc taïi phieân toaø; Hoäi ñoàng xeùt xö thaûû o luaän veà nhöng vaáõ n ñeà phaûi giaûi quyeát trong vuï aùn nhö sau:
1/ Veà toi danh :ä
“ Trộm cắp tài sản”.
Keát quaû bieåu quyeát: 03/03.
2/ Veà ñieàu luaät aùp dung :ï
* Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Keát quaû bieåu quyeát: 03/03
3/ Veà möcù hình phaït:
* Xử phạt bị cáo Trần Quốc Đại 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bắt đi chấp hành án.
Keát quaû bieåu quyeát: 0 3/03