- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA HSST Nguyễn Đức H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2019/HSST Ngày 14 tháng 6 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LAC, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Huân; nghề nghiệp: Giáo viên về nghỉ hưu
2/ Ông Đỗ Hồng Phúc; nghề nghiệp: Cán bộ xã Đồng Văn về nghỉ hưu.
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Văn Tiệp là Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2019/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 20/2019/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức H, sinh ngày 26/5/1987; sinh trú quán: Thôn ĐL 1, xã TN, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức S (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Lý Thị M đã ly hôn; tiền án: Không. Tiền sự: Có 02 tiền sự.
+ Tại Quyết định số: 08/QĐ - XPHC ngày 10/3/2010, Nguyễn Đức H bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 200.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Tại Quyết định số: 13/QĐ - VPHC ngày 04/4/2017, Nguyễn Đức H bị Công an huyện Yên Lạc xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến nay H chưa chấp hành hình phạt đối với 02 quyết định trên.
Về nhân thân:
+ Tại Quyết định số: 36A/QĐ - VPHC ngày 20/6/2017, Nguyễn Đức H bị Công an huyện Yên Lạc xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. H đã chấp hành xong ngày 21/7/2017.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩn số: 49/2010/HSST ngày 26/7/2010, Nguyễn Đức H bị Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. H đã chấp hành xong hình phạt ngày 04/9/2013, đến nay đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2019 cho đến nay hiện đang bị tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
- Người bị hại:
1/ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 3B thị trấn SP, huyện S, tỉnh Lào Cai, (vắng mặt).
2/ Bà Đường Thị TH, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn TH, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
3/ Ông Vũ Văn L, sinh năm 1972; nơi cư trú: ĐL 1, xã TN, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
4/ Anh Bùi Văn X, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn TH, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của anh X: Bà Đường Thị TH (là mẹ đẻ của anh X), sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn TH, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt)..
5/Anh Đường Minh Y, sinh năm 2002; nơi cư trú: ĐL 1, xã TN, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của anh Y: Ông Đường Minh G (là bố đẻ của anh Y), sinh năm 1978; nơi cư trú: ĐL 1, xã TN, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Bùi Văn N, sinh năm 1999; trú tại: Thôn TH, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt)..
2/ Ông Đường Minh G, sinh năm 1978; nơi cư trú: ĐL 1, xã TN, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
- Những người làm chứng:
1/ Bà Nguyễn Thị Z, sinh năm 1966; trú tại: ĐL 2, xã TN, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
2/ Anh Nguyễn Thiên TR (tên gọi khác là TR Tồ), sinh năm 1986; trú tại: ĐL 2, xã TN, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
3/ Ông Nguyễn Thiên B, sinh năm 1966; trú tại: ĐL 2, xã TN, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
4/ Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1968; trú tại: ĐL 2, xã TN, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
5/ Anh Vũ Văn U, sinh năm 1982; trú tại: Phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
6/ Ông Nguyễn Thiên P, sinh năm 1958; trú tại: ĐL 2, xã TN, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 06/3/2019, Nguyễn Đức H đến khu vực vòng xuyến thuộc địa phận thôn YQ, xã BĐ, huyện Y để tìm gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng về để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, H đem số ma túy này về nhà sử dụng hết. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, H có biểu hiện “phê” ma túy, không kiểm soát được hành vi nên chửi mắng, đe dọa những người thân trong gia đình. H đeo 01 chiếc đèn pin trên đầu rồi đi lang thang quanh khu vực gia đình H đang sinh sống gây rối, chửi mắng vô cớ. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/3/2019 anh Đường Minh Y, sinh năm 2002 là người ở cùng thôn với H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu đen xanh, biển kiểm soát: 88F1 - 458.83 của bố là ông Đường Minh G chở anh Nguyễn Thế D, sinh năm 2002 và anh Nguyễn Hng A, sinh năm 2001 trên đoạn đường trong thôn ĐL 1 thì bị H cầm gạch đất nung chặn đầu xe đe dọa. Thấy vậy, mọi người đều hoảng sợ nhảy ra khỏi xe và bỏ chạy, H đuổi theo và cầm gạch ném về phía mọi người nhưng không trúng ai. Sau đó, H quay lại dùng chân đạp liên tiếp vào xe mô tô của anh Y rồi dắt xe mô tô của anh Y đến khu vực móng nhà của gia đình Nguyễn Đức K là anh ruột của H đang xây dựng ở gần đó và du đổ chiếc xe mô tô của anh Y xuống móng nhà đang xây của gia đình anh K. H tiếp tục nhặt 02 viên gạch đất nung ném xuống móng nhà của gia đình anh K trúng vào xe mô tô của anh Y. Hậu quả làm cho chiếc xe mô tô của anh Y bị vỡ yếm, cong càng, xước vỏ. Sau đó, H tiếp tục đi đến khu vực cổng nhà M và Y thì gặp anh Bùi Văn X, sinh năm 2002 và anh Nguyễn VL, sinh năm 2000 vừa điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, sơn màu xanh đen, biển kiểm soát: 88F1 - 451.64 mượn của anh Bùi Văn N đến. Thấy H cầm gạch nên anh X, anh VL hoảng sợ bỏ xe lại và chạy theo nhóm của M, Y. H đuổi theo một đoạn rồi quay lại dắt xe mô tô của anh X đến khu vực nhà anh K. Tại đây, H nhặt 01 viên gạch đất nung ở ven đường đập 02 phát trúng vào phần đầu xe rồi du đổ xe mô tô của anh X xuống móng nhà anh K. đang làm. Hậu quả, xe mô tô của anh X bị nứt vỡ phần nhựa phía đầu và yếm xe. Sau đó, H tiếp tục đi lang thang trên đoạn đường quanh khu vực nhà mình đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày thì gặp bà Đường Thị TH điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Word, sơn màu xanh, biển kiểm soát: 88F2 - 2499 chở theo ông Bùi Văn F là chồng bà TH đi đến. H chặn xe của bà TH rồi dùng 01 viên gạch đất nung đập liên tiếp 02 nhát vào xe mô tô của bà TH. Hậu quả làm cho xe mô tô của bà TH bị vỡ ốp nhựa đèn chiếu sáng phía đầu xe. Thấy bà TH, ông F xuống xe bỏ chạy thì H cũng bỏ đi. Khoảng 03 giờ 15 phút cùng ngày, H đến nhà ông Vũ Văn L ở cùng thôn gọi cổng nhưng không ai mở cửa. H đi ra phía sau chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Altis, sơn màu bạc, biển kiểm soát: 88A - 017.79 của ông L đang đỗ gần cổng, nhặt 01 cục bê tông xi măng, kích thước (21 x 10 x 06)cm ném vào cánh cửa phía trước bên phải nhà ông L làm móp méo. Sau đó, H tiếp tục nhặt cục bê tông vừa ném và ném vào trong sân nhà ông L nhưng không gây hư hỏng tài sản gì. H đi bộ đến khu vực trang trại của gia đình ông Nguyễn Thiên B để tìm anh Nguyễn Thiên NH là con của ông C. Do anh NH không ở nhà nên H đi sang khu vực trang trại của gia đình bà Nguyễn Thị Z cách khu trang trại của gia đình ông C khoảng 100m. H quan sát thấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI i10, màu sơn bạc, biển kiểm soát: 24A - 098.74 của anh Nguyễn Văn T là con trai bà Z đang đỗ tại bãi để phế liệu, H nhặt 02 viên gạch đất nung kích thước (21,5 x 09 x 5,5)cm ở gần đó rồi ném vào kính chắn gió sau và cửa sau bên phải của xe ô tô. Hậu quả làm cho kính chắn gió sau và cửa sau bên phải của xe ô tô bị vỡ khiến 02 viên gạch rơi vào bên trong xe ô tô. Sau đó, H tiếp tục ra ngoài đường chửi bới, chặn xe của những người đi đường thì bị Công an xã TN khống chế và báo cáo Công an huyện Yên Lạc xử lý theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan gồm: 01 viên gạch bằng bê tông xi măng, kích thước (21 x 10 x 06)cm, 02 viên gạch đất nung, kích thước (21,5 x 09 x 5,5)cm, 01 chiếc đèn pin loại đeo trên đầu và các phương tiện bị H làm hư hỏng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 12 ngày 08/3/2019 và các bản kết luận định giá tài sản số: 18, 19, 20, 21 09/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: “Đối với xe ô tô biển kiểm soát: 24A - 098.74: 01 tấm kính chắn gió phía sau bị nứt vỡ trị giá 2.520.000 đồng; tấm kính chắn gió tại cánh cửa sau bên phải và 01 vết móp méo phần kim loại kích thước (02 x 01)cm trị giá 1.008.900 đồng; keo dán kính 320.000 đồng; tiền công sửa chữa là 800.000 đồng. Tổng cộng bằng 4.648.900 đồng.
Đối với xe ô tô biển kiểm soát: 88A - 017.79: Mặt ngoài cánh cửa bên phải phía trước có 01 vết cà xước, bị lõm hình tròn kích thước (02 x 02)cm. Tiền sơn lại cánh cửa trước bên phụ là 900.000 đồng; công gò cánh cửa trước bên phụ là 600.000 đồng. Tổng cộng bằng 1.500.000 đồng.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát: 88F2 - 2499: Phần ốp nhựa pha đèn bị vỡ trị giá 150.000 đồng; tiền công thay phụ tùng là 50.000 đồng. Tổng cộng bằng 200.000 đồng.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát: 88F1 - 451.64: Bộ ốp trung tâm bên trái trị giá 220.000 đồng; bộ nắp trước tay lái trị giá 130.000 đồng; chắn bùn trước trị giá 210.000 đồng; cụm đèn pha trị giá 390.000 đồng; bộ ốp tay lái sau trị giá 80.000 đồng; tấm thông gió trước trị giá 50.000 đồng; kẹp pha trị giá 5.000 đồng; tiền công thay phụ tùng 50.000 đồng. Tổng cộng bằng 1.135.000 đồng.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát: 88F1 - 458.83: Phần nhựa bị vỡ của vai, chân yếm bên trái, chân yếm bên phải, tem xe mô tô, cong càng, bát phốt, đĩa phanh trị giá cụ thể: Vai: 800.000 đồng; nắn càng: 100.000 đồng; yếm trái + tem: 390.000 đồng; chân yếm trái: 150.000 đồng; chân yếm phải: 150.000 đồng; bát phốt: 120.000 đồng; đĩa phanh: 550.000 đồng; công thay phụ tùng: 50.000 đồng. Tổng cộng bằng 2.310.000 đồng”.
Về nguồn gốc số ma túy H sử dụng vào ngày 06/3/2019 quá trình điều tra đã xác định, H mua của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ ở khu vực vòng xuyến thuộc địa phận thôn YQ, xã B. Do H không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể của người đàn ông trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H ngày 06/3/2019, xét thấy chưa đến mức bị truy cứu trách nhiện hình sự nên Công an huyện Yên Lạc đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với H.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Đường Thị TH, anh Bùi Văn X, anh Đường Minh Y và anh Nguyễn Văn T yêu cầu Nguyễn Đức H phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về tài sản cho những người trên theo kết luận định giá tài sản. Đến nay, H vẫn chưa bồi thường được khoản tiền nào để khắc phục hậu quả.
Vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 02 viên gạch đất nung; 01 viên gạch bê tông xi măng và 01 chiếc đèn pin chiếu sáng không còn giá trị sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Đức H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như các lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã khai tại Cơ quan điều tra.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức H cũng đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như các lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa.
Bản Cáo trạng số: 23/CT – VKS ngày 16/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc thực hành quyền công tố. Tại phiên tòa đã phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các vật chứng đã thu giữ được. Từ đó có đủ cở sở để xác định, bị Nguyễn Đức H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 điều 51; điểm d, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất quan điểm về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án và án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Đức H không có ý kiến bổ sung gì khác và không có ý kiến gì tham gia tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc và của Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đầy đủ đúng theo trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp và đúng với quy định của pháp luật nên không có kiến nghị khắc phục gì.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố mà không có lời tự bào chữa nào khác. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với các vật chứng đã thu được và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 00 giờ 30 phút đến 03 giờ 40 phút ngày 07/3/2019, tại khu vực thôn ĐL 1, xã TN, huyện Y. Do Nguyễn Đức H bị phê ma túy nên H đã có hành vi dùng gạch ném, đập làm hư hỏng tài sản của một số người bị hại. Cụ thể làm hư hỏng của anh Đường Minh Y chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88F1 - 458.83; của anh Bùi Văn X chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88F1 - 451.64; của bà Đường Thị TH chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88F2 - 2499 và 01 xe ô tô của ông Vũ Văn L biển kiểm soát: 88A - 017.79 và của anh Nguyễn Văn T chiếc xe ô tô biển kiểm soát: 24A - 098.74. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 9.793.900 đồng (Chín triệu, bảy trăm chín mươi ba nghìn, chín trăm đồng).
Với hành vi nêu trên của bị cáo đã có đủ cơ sở để khẳng định, bị cáo đã phạm vào tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 178 của Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định:
“1. Người nào …cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương; trực tiếp xâm phạm đến tài sản và quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh trước pháp luật như vậy mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân xấu. Năm 2010, bị Công an tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 200.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến năm 2017 tiếp tục bị Công an huyện Yên Lạc xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo đã từng bị xử phạt tù về tội ma túy. Sau khi mãn hạn tù, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người công dân tốt mà còn tiếp tục sử dụng ma túy tự dẫn mình vào tình trạng không tỉnh táo và không kiểm soát được thần kinh đập phá tài sản của nhiều người. Hậu quả làm hư hỏng 03 chiếc xe mô tô và 02 chiếc xe ô tô, tổng trị giá thiệt hại tài sản hơn 9.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội có tính chất côn đồ và phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại các điểm d, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về nguồn gốc số ma túy H sử dụng vào ngày 06/3/2019, quá trình điều tra đã xác định, H mua của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ ở khu vực vòng xuyến thuộc địa phận thôn YQ, xã B. Do H không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể của người đàn ông trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ xử lý hình sự đối với người đàn ông bán ma túy cho H..
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H ngày 06/3/2019, xét thấy chưa đến mức bị truy cứu trách nhiện hình sự nên Công an huyện Yên Lạc đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với H.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Đường Thị TH, anh Bùi Văn X, anh Đường Minh Y và anh Nguyễn Văn T yêu cầu Nguyễn Đức H phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về tài sản theo kết quả định giá tài sản của Cơ quan điều tra. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H tự nguyện bồi thường cho bà Đường Thị TH, anh Bùi Văn X, anh Đường Minh Y và anh Nguyễn Văn T theo kết quả định giá tài sản của Cơ quan điều tra.
Căn cứ vào bản kết luận định giá tài sản số: 12 ngày 08/3/2019 và các bản kết luận định giá tài sản số: 18, 19, 20, 21 09/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải bổi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn T tổng số tiền 4.648.900 đồng (Bốn triệu, sáu trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm đồng). Trong đó bao gồm: 01 tấm kính chắn gió phía sau bị nứt vỡ trị giá 2.520.000 đồng; tấm kính chắn gió tại cánh cửa sau bên phải và 01 vết móp méo phần kim loại kích thước (02 x 01)cm trị giá 1.008.900 đồng; keo dán kính 320.000 đồng; tiền công sửa chữa là 800.000 đồng; bồi thường cho bà Đường Thị TH tổng số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Trong đó bao gồm: Phần ốp nhựa pha đèn bị vỡ trị giá 150.000 đồng; tiền công thay phụ tùng là 50.000 đồng; bồi thường cho anh Bùi Văn X tổng số tiền là 1.135.000 đồng (Một triệu, một trăm ba mươi năm nghìn đồng). Trong đó bao gồm: Bộ ốp trung tâm bên trái trị giá 220.000 đồng; bộ nắp trước tay lái trị giá 130.000 đồng; chắn bùn trước trị giá 210.000 đồng; cụm đèn pha trị giá 390.000 đồng; bộ ốp tay lái sau trị giá 80.000 đồng; tấm thông gió trước trị giá 50.000 đồng; kẹp pha trị giá 5.000 đồng; tiền công thay phụ tùng 50.000 đồng và bồi thường cho anh Đường Minh Y tổng số tiền là 2.310.000 đồng (Hai triệu, ba trăm mười nghìn đồng). Trong đó bao gồm: Phần nhựa bị vỡ của vai là 800.000 đồng; nắn càng là 100.000 đồng; yếm trái + tem là 390.000 đồng; chân yếm trái là 150.000 đồng; chân yếm phải là 150.000 đồng; bát phốt là 120.000 đồng; đĩa phanh là 550.000 đồng và công thay phụ tùng là 50.000 đồng. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Đức H chậm thi hành án đối với khoản tiền còn phải thi hành án thì bị cáo phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự;
Vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 02 viên gạch đất nung, 01 viên gạch bê tông xi măng và 01 chiếc đèn pin chiếu sáng vì không còn giá trị sử dụng.
. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 08/3/2019.
Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; các điều 584; 585; 586; 589 và khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự. Buộc Nguyễn Đức H phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Nguyễn Văn T số tiền 4.648.900 đồng (Bốn triệu, sáu trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm đồng); bồi thường cho bà Đường Thị TH số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); bồi thường cho anh Bùi Văn X số tiền 1.135.000 đồng (Một triệu, một trăm ba mươi năm nghìn đồng) và bồi thường cho anh Đường Minh Y số tiền 2.310.000 đồng (Hai triệu, ba trăm mười nghìn đồng). Tổng số tiền bị cáo H phải bồi thường cho những người bị hại là 8.293.900 đồng (Tám triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, chín trăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 viên gạch đất nung, 01 viên gạch bê tông xi măng và 01 chiếc đèn pin chiếu sáng vì không còn giá trị sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Chi cục thi hành án huyện Yên Lạc và Công an huyện Yên Lạc ngày 31/5/2019).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 414.695 đồng (Bốn trăm mười bốn nghìn, sáu trăm chín mươi năm đồng) án phí dân sự trong án hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Yên Lạc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Yên Lạc; - Chi cục THA.DS huyện Yên Lạc; - UBND xã TN; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS vụ án; bộ phận theo dõi THAHS; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Hạnh |