vanban.org

Bản án 19/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 07/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lý H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 19/2018/HSST.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 07/02/2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Trần Đăng Khoa.

2. Ông: Nguyễn Quốc Tiến.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Rạch Giá, tham gia phiên tòa: Ông: Nguyễn Thanh Giang – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2018/HSST ngày 18/1/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Lý H – Sinh năm: 1995, tại An Biên – Kiên Giang. Nơi ĐKTT: Ấp Xẻo R , xã Hưng Y , huyện An B , tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: Phòng số 08 nhà cho thuê số 597/61 Mạc C phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và bà Trần Thị M ; Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/11/2017 (Bắt truy nã). Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an Tp. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Những người bị hại:

1/- Bà Thái Hồng Th – Sinh năm: 1999. (Vắng mặt)

Trú tại: Phòng trọ số 3, nhà trọ số 15 Vàm T , phường Vĩnh Q , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang

2/- Ông Lê Văn Gi – Sinh năm: 1988. (Có mặt)

Trú tại: Phòng số 12 nhà cho thuê số 597/61 Mạc C phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/- Bà Trần Thị M (Mẹ bị cáo) – Sinh năm: 1966.( Có mặt).

Trú tại: Nhà trọ số 8 hẻm 2, Nguyễn T , phường Vĩnh Qu , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang

2/- Bà Lƣu Tuyết Ph – Sinh năm: 1974 Vắng mặt).

Trú tại: Lô 4 - Căn 2 Huỳnh Thúc Kh , phường Vĩnh Qu , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang.

* Những người làm chứng:

1/- Ông Lâm Tấn Huy – Sinh năm: 1990. (Vắng mặt)

Trú tại: Số 29 hẻm 1, Nguyễn T , phường Vĩnh Qu , Tp. Rạch G , tỉnh Kiên Giang

2/- Ông Đặng Tuấn Ng – Sinh năm: 1995. (Vắng mặt).

Trú tại: Số 72C Trần Quốc T , phường Vĩnh Th , Tp. Rạch G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ, ngày 09/7/2017, Nguyễn Lý H được bạn tên Q (chưa rõ tên thật, địa chỉ) rủ đi uống rượu. Khi đi ngang phòng trọ số 03, nhà trọ số 15 Vàm Trư, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá của anh Thái Hồng Th , thấy đèn trong phòng còn sáng. H nảy sinh ý định tìm tài sản lấy trộm nên đi đến nhìn qua khe cửa phòng thì thấy anh Th đang nằm ngủ, bên cạnh có để 01 điện thoại nhãn hiệu Sony Xperia XA F3116, màu trắng đang sạc pin. Lúc đó, H tìm lấy một cây móc đồ bằng nhôm kéo thẳng để làm cây móc có chiều dài khoảng 01 mét móc lấy điện thoại của anh Th và ném cây móc xuống kinh gần đó. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H nhờ anh Lý Tấn H chở đến tiệm điện thoại “Húa”, tại L4-căn 2 Huỳnh Thúc Kháng, phường Vĩnh Quang, bán cho chị Lưu Tuyết Ph được 1.100.000 đồng (chị Phượng không biết tài sản do trộm cắp mà có). Sau đó, anh Th được anh Huy cho biết sự việc nên đến gặp mẹ của H là bà Trần Thị M yêu cầu H phải trả điện thoại cho anh Th . Đến 15 giờ 30 phút, ngày 10/7/2017, bà Trần Thị M đến gặp chị Phượng chuộc điện thoại về trả cho anh Th và Th đem điện thoại lên Công an phường Vĩnh Quang trình báo. Đến ngày 13/9/2017, Nguyễn Lý H bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá khởi tố và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 08/10/2017, Nguyễn Lý H đang ở phòng số 08, nhà trọ số 597/61 đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, H nhìn thấy cửa phòng 12 chỉ khép hờ và anh Lê Văn Gi đang nằm ngủ bên cạnh có để 01 máy tính bản xách tay (Láptop) nhãn hiệu Lenovo Yoga 500 Core i3, màu đen. H lén lút mở cửa phòng số 12 lấy trộm 01 máy tính của anh Gi rồi đem đến cửa hàng “Thế Giới di động”, số 98 Trần Phú, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, thuê anh Đặng Tuấn Ng mở mật khẩu máy tính. Anh Tuấn không biết máy tính do H trộm cắp nên đồng ý, H để máy tính lại và quay chở về phòng trọ. Do nghi ngờ H lấy trộm tài sản, nên Gi gặp hỏi thì H đã thừa nhận lấy trộm máy tính của Giàu. Sau đó, Gi đến Công an phường Vĩnh Quang trình báo sự việc. Ngày 13/10/2017, Cơ quan điều tra ra lệnh bắt bị can để tạm giam nhưng H bỏ trốn.

Ngoài ra, trong quá trình bỏ trốn, vào khoảng cuối tháng 10/2017, tại hẻm 3 đường Hai Bà Trưng, thuộc phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, H còn trộm cắp tài sản của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi (Chưa rõ họ tên thật, địa chỉ) 01 điện thoại di động nhãn hiệu 0PPO thì bị người phụ nữ bắt quả tang, H năn nỉ và trả lại điện thoại nên người phụ nữ không trình báo chính quyền địa phương. Ngày 10/11/2017, Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã đối với Hùng, ngày 17/11/2017, H bị bắt theo quyết địnhtruy nã và giam để điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại nhãn hiệu Sony Xperia XA F3116, màu trắng;

- 01 máy tính bản xách tay (Láptop) nhãn hiệu Lenovo Yoga 500 Core i3, màu đen, bị nứt màng hình, đã qua sử dụng. Tất cả đã trả cho chủ sở hữu.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 112, ngày 04/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu Sony Xperia XA F3116, màu trắng có giá trị là 3.500.000 đồng (Bút lục số: 29, 30).

*Tại bản kết luận định giá tài sản số: 139 ngày 19/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận: 01 máy tính bản xách tay (Láptop) nhãn hiệu Lenovo Yoga 500 Core i3, màu đen, bị nứt màng hình, đã qua sử dụng có giá trị là 7.000.000 đồng (Bút lục số: 31, 32).

* Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Thái Hồng Th và Lê Văn Gi đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu bồi thường (Bút lục số: 60, 61).

Tại bản Cáo trạng số: 16/KSĐT – KT ngày 10/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo Nguyễn Lý H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Nguyễn Lý H do muốn có tiền tiêu xài đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau: Vào khoảng 04 giờ, ngày 09/7/2017, tại phòng trọ số 03 tại nhà trọ số 15 Vàm Trư, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, H lén lút lấy trộm của anh Thái Hồng Th 01 điện thoại nhãn hiệu Sony Xperia XA F3116, màu trắng, có giá trị 3.500.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 08/10/2017, tại phòng số 08 nhà cho thuê số 597/61 đường Mạc Cửu, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, H lén lút lấy trộm của Lê Văn Gi 01 máy tính bản xách tay (Láptop) nhãn hiệu Lenovo Yoga 500 Core i3, màu đen, có giá trị 7.000.000 đồng. Tổng giá trị Nguyễn Lý H chiếm đoạt là: 10.500.000 đồng.

Đến ngày 17/11/2017, Nguyễn Lý H bị bắt tạm giam để điều tra.

Do đó, Viện kiểm sát quyết định giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Lý H về tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm lỗi cố ý trực tiếp. Chỉ vì muốn có tiền xài mà không cần phải lao động nên bị cáo đã nghĩ ra cách kiếm tiền bằng hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của công dân luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, bất kì ai có hành vi xâm phạm trái phép đều xử lý nghiêm. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo để răn đe. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình...Đề nghị HĐXX:

- Áp dụng: Khoản1 Điều 138, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 33 BLHS:

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lý H (Ba Vú) – Mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại các bị hại, các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Thưa HĐXX bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra, lời khai người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo H đã phạm tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 138 BLHS là đúng người, đúng tội.

Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thưc được việc "Trộm cắp tài sản" của người khác là vi phạm pháp luật, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động bằng chính khả năng sức lao động của mình, từ đó bị cáo bất chất pháp luật lao vào con đường phạm tội bằng hành vi "Trộm cắp tài sản" của người khác một cách trái pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây căm phẫn, bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính táo bạo và hết sức liều lĩnh. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật. Trong vụ án này tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của những người bị hại tổng giá trị tài sản qua định giá là 10.500.000 đồng là số tiền lớn. Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm nên cần phải xử lý nghiêm...Do vậy, đứng trước phiên tòa hôm nay, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi mình đã gây ra. HĐXX thiết nghĩ cần tuyên cho bị cáo mức án nghiêm, mới tương xứng tính chất hậu quả hành vi bị cáo đã gây ra, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới đủ tính giáo dục, cải tạo bị cáo trở nên một công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo là cần thiết.

Xét về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, bản thân là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, một phần tài sản thu hồi trả lại bị hại, một phần tác động gia đình chuộc lại tài sản mà bị cáo đem cầm cố để trả lại cho bị hại…Do đó, cần cho bị cáo hưởng hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS khi lượng hình.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS là phù hợp như HĐXX nhận định trên.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 138 BLHS quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng"

Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo đang gặp nhiều khó khăn, bản thân lại không có nghề ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại các bị hại, các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét:

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS và Điều 76 BLTTHS

Là 01 điện thoại di động nhãn hiệu SonyXperia và 01 máy tính bản xách tay nhãn hiệu Lenovo, tất cả đã trao trả chủ sỡ hữu.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lý H (Ba V ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 138, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm b, o và p khoản 1, 2 Điều 46 và Điều 33 BLHS.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lý H (Ba V ) – 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo (Ngày 17/11/2017)

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 07/12/2017). Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ