- Tranh chấp gì? án hình sự — "Buon ban hang cam - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2018/HSST Ngày: 24 - 4 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thăng;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Binh;
2. Ông Trần Trung Dũng.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thơ - là Th ký Toà án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh H ng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị H ơng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh H ng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2018 theo Quy t định đ a vụ án ra xét xử số 18/2018/HSST-QĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 đối với các ị cáo:
1. Họ và tên: Cao Văn N; năm sinh 1982, tên gọi khác: Không
Sinh trú quán: thôn N, xã L, huyện V, tỉnh H ng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Cao Xuân L(Ông L được tặng Huy Chương kháng chiến hạng nhì, Huy Chương chiến sỹ giải phóng vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; Huân Chương chiến công hạng ba vì đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và làm tròn nghĩa vụ ở Cam pu chia năm 1979 đến năm 1989) và bà Nguyễn Thị H; vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1984 và có hai con: con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013; tiền sự, tiền án: Ch a có; Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/2/2018, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c trú từ ngày 07/02/2018 tại xã L, huyện V, tỉnh H ng Yên. (Có mặt).
2. Họ và tên: Hoàng Quốc V; năm sinh 1999, tên gọi khác: Không
Sinh trú quán: thôn S, xã L, huyện V, tỉnh H ng Yên.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 10/12; con ông: Hoàng Văn K(đã ch t) và con bà Nguyễn Thị T; vợ: Ch a có; tiền sự, tiền án: Ch a có; Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/2/2018, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c trú từ ngày 07/02/2018 tại xã L, huyện V, tỉnh H ng Yên. (Có mặt).
* Ng ời bào chữa cho bị cáo Hoàng Quốc V : Bà Phạm Thị Thủy - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà N ớc tỉnh H ng Yên. (Có mặt)
* Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Thanh G - Sinh năm 1976.(Có mặt)
Trú tại: Thôn B, xã L, huyện V, tỉnh H ng Yên.
* Những ng ời chứng ki n:
- Ông Hoàng Văn Q - Sinh năm 1957.(Vắng mặt)
Trú tại: Thôn A, xã T, huyện K, tỉnh H ng Yên.
- Anh Nguyễn Duy T - Sinh năm 1985.(Vắng mặt)
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh H ng Yên.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn i n tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Khoảng 09 giờ ngày 04/02/2018, Cao Văn N đang ở nhà thì có Hoàng Quốc V gọi điện hỏi: “Anh còn pháo không để cho em, có chị khách đang hỏi mua bảy dàn”, N đồng ý và gọi điện cho ng ời đàn ông N quen bi t ở Lạng Sơn (N không bi t rõ tên, địa chỉ cụ thể) hỏi mua pháo nh ng ng ời đàn ông này chỉ còn 5 hộp và thống nhất với giá 600.000 đồng/hộp, tổng là 3.000.000 đồng, gửi pháo theo xe khách về khu vực thị trấn Nh Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh H ng Yên. Sau đó N gọi điện và bảo V: “chỉ có 5 dàn thôi”, với giá 800.000 đồng/ 1 dàn tổng số là 4.000.000 đồng. V gọi điện lại cho ng ời phụ nữ tên là T (là ng ời đã đặt mua pháo của V) bảo: “Bây giờ em chỉ còn 5 dàn thôi, giá thì 1.000.000 đồng/dàn” tổng số tiền là 5.000.000 đồng, ng ời phụ nữ đó đồng ý và hẹn V mang pháo đ n khu vực cầu Tr ơng Xá, xã Toàn Thắng, huyện Kim Động, tỉnh H ng Yên để nhận hàng và trả tiền. Đ n 11 giờ cùng ngày N ra khu vực thị trấn Nh Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh H ng Yên nhận 5 hộp pháo ng ời đàn ông đã chuyển cho N theo xe khách và trả 3.000.000 đồng qua ng ời phụ xe khách (N không nhớ biển số xe, tên, tuổi cụ thể của ng ời phụ xe), N bê bao tải rứa bên trong có 5 hộp pháo cất trong cốp xe ô tô Hundai I10, biển số: 89A-056.38. Sau đó N điều khiển xe ô tô chở V xuống khu vực thôn Tr ơng Xá, xã Toàn Thắng, huyện Kim Động, tỉnh H ng Yên để giao pháo. Đ n 13 giờ 45 phút cùng ngày, V bê bao tải bên trong chứa 5 dàn pháo hoa đi ộ về h ớng cầu Tr ơng Xá, Nam đỗ xe đợi V thì bị lực l ợng Công an huyện Kim Động phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 05 hộp pháo.
Tại bản k t luận giám định số 110/PC54 ngày 05/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H ng Yên, k t luận: 05 hộp hình chữ nhật, bên trong mỗi hộp pháo hình chữ nhật có 36 vật hình trụ vỏ giấy đ ợc liên k t với nhau đều là pháo hoa, có chứa thuốc pháo, khi đốt phát ra ti ng nổ và ánh sáng màu. Có khối l ợng là: 7 kg (kilôgam).
Đối với ng ời bán pháo cho N và ng ời phụ nữ đã đặt mua pháo của V, do N và V không bi t họ tên, địa chỉ cụ thể, nên không có đủ cơ sở xác minh làm rõ để xử lý.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Quốc V và Cao Văn N đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của của mình và xin đ ợc giảm nhẹ hình phạt.
Bản Cáo trạng số 19/CT- VKS - KĐ ngày 28/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động truy tố Hoàng Quốc V và Cao Văn N về tội “ Buôn bán hàng cấm ” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 đ ợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quy t định truy tố Hoàng Quốc V và Cao Văn N về tội “ Buôn án hàng cấm ” và đề nghị Hội đồng xét xử.
Áp dụng Nghị quy t số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đ ợc sửa đổi, ổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Xử phạt: ị cáo Cao Văn N từ 01 năm 03 tháng đ n 01 năm 06 tháng tù nh ng cho h ởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đ n 03 năm.
Xử phạt: ị cáo Hoàng Quốc V từ 01 năm đ n 01 năm 03 tháng tù nh ng cho h ởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đ n 02 năm 06 tháng.
Giao các bị cáo cho UBND xã L, huyện V, tỉnh H ng Yên giám sát, giáo dục bị cáo N và V trong thời gian thử thách. Tr ờng hợp bị cáo thay đổi nơi c trú sẽ thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt ổ sung: Miễn hình phạt ổ sung là phạt tiền đối với ị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu cho hủy ỏ 01 thùng bìa cattong niêm phong hoàn lại sau giám định ên trong có chứa 05 hộp pháo có trọng l ợng 6,8kg.
Về án ph : Buộc ị cáo Hoàng Quốc V và Cao Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.
Ng ời ào chữa cho ị cáo Hoàng Quốc V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho ị cáo V các tình ti t giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, ị cáo V thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; gia đình thuộc diện hộ cận nghèo và có ông nội là ng ời có công đ ợc tặng th ởng Huân ch ơng; ị cáo có đơn trình ày hoàn cảnh khó khăn, xin đ ợc cải tạo tại địa ph ơng, đơn có xác nhận của UBND xã L để giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo và cho ị cáo đ ợc cải tạo tại địa ph ơng.
- Lời nói sau cùng của ị cáo: Các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đều đề nghị Hội đồng xét xử cho các ị cáo đ ợc h ởng mức án thấp nhất, đ ợc cải tạo tại địa ph ơng.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
[1] Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Động, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, ị cáo; ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, ng ời ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, ng ời ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời nhận tội của các ị cáo tại phiên tòa phù hợp khách quan với lời khai của các ị cáo tại các iên ản lấy lời khai, iên ản hỏi cung có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với lời khai của ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ng ời chứng ki n, Biên ản ắt ng ời phạm tội quả tang, Bản k t luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để k t luận: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 04/02/2018, tại thôn Tr ơng Xá, xã Toàn Thắng, huyện Kim Động, tỉnh H ng Yên Hoàng Quốc V và Cao Văn N có hành vi mang 05 hộp hình chữ nhật, bên trong mỗi hộp hình chữ nhật có 36 vật hình trụ vỏ giấy đ ợc liên k t với nhau có khối l ợng 07kg, nghi là pháo đi án kiểm lời thì bị Công an huyện Kim Động phát hiện bắt quả tang.
Tại bản k t luận giám định số 110/PC54 ngày 05/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H ng Yên, k t luận: 05 hộp hình chữ nhật, bên trong mỗi hộp pháo hình chữ nhật có 36 vật hình trụ vỏ giấy đ ợc liên k t với nhau đều là pháo hoa, có chứa thuốc pháo, khi đốt phát ra ti ng nổ và ánh sáng màu. Có khối l ợng là: 07kg (kilôgam).. Do đó, các bị cáo đã phạm tội “Buôn án hàng cấm”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động truy tố các ị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 đ ợc sửa đổi, bỏ sung năm 2017 là đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các ị cáo là ng ời thành niên uộc phải nhận thức đ ợc hành vi buôn bán pháo là vi phạm các quy định của Nhà n ớc về ch độ quản lý, cấm kinh doanh một số mặt hàng, xâm phạm đ n nền kinh t Quốc dân. Ngoài ra còn gây ảnh h ởng xấu về văn hóa, là nguyên nhân gây mất trật tự trị an xã hội, gây ra những th ơng t ch đau lòng và gây ô nhiễm môi tr ờng từ việc đốt pháo. Nh ng vì động cơ t lợi, muốn có tiền nh ng l ời lao động các ị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt các ị cáo mức án nghiêm, t ơng xứng với hành vi phạm tội của các ị cáo.
Các bị cáo không phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo đ ợc h ởng tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, ị cáo N và V đều thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; các ị cáo đều phạm tội lần đầu; Bố đẻ ị cáo N là ng ời có công đ ợc tặng th ởng nhiều Huân huy ch ơng; ị cáoV thuộc diện hộ cận nghèo và có ông nội là ng ời có công đ ợc tặng th ởng Huân ch ơng; hai ị cáo đều có đơn trình ày hoàn cảnh khó khăn, xin đ ợc cải tạo tại địa ph ơng, đơn có xác nhận của UBND xã L. Những tình ti t giảm nhẹ này đ ợc quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đ ợc sửa đổi, bỏ sung năm 2017.
Về nhân thân: Các ị cáo N, V đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.
Trong vụ án này có đồng phạm tham gia nên cần đánh giá vai trò của từng bị cáo. Bị cáo N là ng ời giữ vai trò chính, trực ti p liên hệ mua pháo và thực hiện tích cực; bị cáo V giữ vai trò thực hiện tích cực. Nên bị cáo N sẽ phải chịu hình phạt cao hơn ị cáo V.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các ị cáo. Xét thấy, các ị cáo có nơi c trú rõ ràng, không cần phải cách ly các ị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho các ị cáo cải tạo tại địa ph ơng và ấn định thời gian thử thách theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS năm 2015 đ ợc sửa đổi, ổ sung năm 2017 cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục ị cáo thành ng ời l ơng thiện và răn đe kẻ khác. Giao các bị cáo cho UBND xã L, huyện V, tỉnh H ng Yên giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Tr ờng hợp bị cáo thay đổi nơi c trú sẽ thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt ổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật hình sự quy định “Ng ời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đ n 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đ n 05 năm”, nh ng các bị cáo không có tài sản riêng và không có nghề nghiệp ổn định, gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt ổ sung đối với các ị cáo.
[3] Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đ ợc sửa đổi, ổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vật chứng là 01 thùng ìa cattong niêm phong hoàn lại sau giám định bên trong có chứa 05 hộp pháo có trọng l ợng 6,8kg, thuộc vật cấm l u hành, không có giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với chi c xe ô tô, biển số: 89A-056.38, đăng ký xe mang tên Cao Văn N. Quá trình điều tra xác định ngày 25/12/2017, N đã án chi c xe ô tô trên cho anh Nguyễn Thanh G, sinh năm 1976, trú tại thôn B, xã L, huyện V với giá 330.000.000 đồng. Ngày 04/02/2018 N m ợn của anh G chi c xe ô tô để đi lại. Anh G không bi t N đã sử dụng chi c xe ô tô trên dùng làm ph ơng tiện phạm tội. Vì vậy, ngày 07/02/2018, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Kim Động đã trả lại chi c xe ô tô cùng toàn bộ giấy tờ cho anh Nguyễn Thanh G. Tại phiên tòa anh G không có yêu cầu, đề nghị gì nên không phải giải quy t.
Đối với 02 chi c điện thoại V và N dùng để liên lạc vào việc buôn bán pháo. V và N khai bị mất tr ớc khi bị bắt quả tang. Cơ quan điều tra đã ti n hành các biện pháp điều tra nh ng không thu giữ đ ợc. Nên không đặt ra giải quy t.
[4] Về án ph : Bị cáo N, V phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ vào Nghị quy t số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đ ợc sửa đổi, ổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Quốc V và Cao Văn N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt ị cáo Cao Văn N 01(Một) năm 03(Ba) tháng tù, nh ng cho h ởng án treo, thời gian thử thách 02(Hai) năm 06(Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt ị cáo Hoàng Quốc V 01(Một) năm tù, nh ng cho h ởng án treo, thời gian thử thách 02(Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Cao Văn N và bị cáo Hoàng Quốc V cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh H ng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Tr ờng hợp bị cáo thay đổi nơi c trú sẽ thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Miễn hình phạt ổ sung là phạt tiền cho các ị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho hủy ỏ 01 thùng bìa cattong niêm phong hoàn lại sau giám định ên trong có chứa 05 hộp pháo có trọng l ợng 6,8kg. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Động).
Về án phí: Buộc ị cáo Hoàng Quốc V và Cao Văn N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000(Hai trăm nghìn) đồng án ph hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; VKSND huyện; - Cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án hình sự huyện; - Bị cáo; ng ời liên quan. - THADS huyện; - Sở t pháp; - L u hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thăng |