vanban.org

Bản án 189/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê C. Xử phạt: Bị cáo Lê C một (01) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Chuc - Trom cap tai san - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 138 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TAND TỈNH KHÁNH HOÀ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG
Bản án số: 189/2017/HSST
Ngày: 19/9/2017
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
- Các hội thẩm nhân dân:
nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Bà Phạm Thị Trang – Kiểm sát viên.
Khánh Hòa, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 243/2017/HSST ngày
23 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Phú Hòa, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở: Phú Lộc, Hòa Thắng, Phú Hòa, tỉnh Phú Yên;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; con ông Lê H, sinh năm
1935 và bà Nguyễn Thị Y (chết), Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1968, Có 02 con;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
phạt Lê C 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” quy định tại điểm a khoản
2 Điều 155 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 05/02/1994;
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt Lê C 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy
định tại điểm a khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt vào
ngày 01/9/2009;
Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt Lê C 12 tháng tù về tội “Trộm
cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình
phạt vào ngày 07/10/2012;
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Bà ZHAOXIN, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Hồ Bắc, Vũ Hán, Trung Quốc.
Vắng mặt.
Ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh

NHẬN THẤY:

Bị cáo Lê C bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố về hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 14 giờ ngày 02/01/2017, Lê C điều khiển xe máy hiệu Sirius (BKS: 78N2-3687) đến Hội quán cà phê Hòn Chồng – Tổ 25 Hòn Chồng, Vĩnh Phước, Nha Trang ngồi uống cà phê. Sau đó C gọi điện thoại cho đối tượng H (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) và vợ chồng Huỳnh Ngọc H, Phạm Thị H đến uống cà phê cùng. Khi ngồi trong quán thì C phát hiện một chiếc giỏ xách của chị Zhaoxin (Quốc tịch: Trung Quốc) treo trên ghế không có người trông coi, C nảy sinh ý định trộm cắp chiếc túi xách này. Sau khi uống cà phê xong thì H về trước còn C và vợ chồng H đợi tính tiền xong rồi về. Khi đi qua chỗ để chiếc giỏ xách của chị Zhaoxin, C liền lấy trộm rồi điều khiển xe máy chạy xuống khu vực dốc Hòn Chồng lục giỏ xách thấy một chứng minh nhân dân Trung Quốc của chị Zhaoxin, C ném tại đây. Sau đó, C chạy tới công viên Võ Văn Ký, Phương Sài, Nha Trang tiếp tục lục giỏ xách và lấy được 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động hiệu Sony Z3, còn giỏ xách ném tại công viên. Điện thoại Sony Z3 C bán cho một người đàn ông (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) với giá 1.800.000đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng) và tiêu xài cá nhân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 64/TC-KH ngày 13/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Nha Trang kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Sony Z3 có giá trị là 3.742.000đ (Ba triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản C trộm cắp là 5.342.000đ (Năm triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 181/CT-VKS ngày 22/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Lê C về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang đã giữ nguyên kết luận truy tố bị cáo Lê C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Bị cáo Lê C khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin xem xét được hưởng mức án nhẹ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại là bà Zhaoxin (Quốc tịch Trung Quốc), xét thấy việc vắng mặt của người bị hại chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bị hại theo quy định tại Điều 191 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo theo cáo trạng truy tố cho thấy: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định: Xuất phát từ động cơ vụ lợi cá nhân, Lê C điều khiển xe máy đến Hội quán cà phê Hòn Chồng uống cà phê, sau đó phát sinh hành vi trộm cắp một chiếc giỏ xách của chị Zhaoxin (Quốc tịch: Trung Quốc). Bên trong giỏ xách có 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động hiệu Sony Z3, điện thoại C bán cho một người đàn ông (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) với giá 1.800.000đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng) và đã tiêu xài cá nhân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 64/TC-KH ngày 13/3/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Nha Trang kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Sony Z3 có giá trị là 3.742.000đ (Ba triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản C trộm cắp là 5.342.000đ (Năm triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, để có tiền tiêu xài Lê C đã lén lút chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm khắc. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu về hành vi trộm cắp tài sản nên cần phải có mức án nghiêm khắc. Do đó, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn để xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có đơn yêu cầu.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê C.

Xử phạt: Bị cáo Lê C một (01) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có đơn yêu cầu.

* Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Lê C phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết. * Nơi nhận:

Cỡ chữ