vanban.org

Bản án 189/2017/HSST — Hình sự

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc T : 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2017. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2017/HSST
Ngày: 21/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Hồng Vân.

2. Ông Nguyễn Văn Tiên

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà– Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 183/2017/TLST-HS, ngày 24/8/2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2017/HSST-QĐ ngày 28/8/2017, đối với bị cáo:

Lê Quốc T , Sinh năm: 1993; Giới tính: Nam; Tại Kiên Giang; Nơi đăng ký NKTT: Khóm B, thị trấn Tân H, huyện Tân H, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Họ tên Cha: Lê Minh H; Họ tên Mẹ: Nguyễn Thị Nhị H; Hoàn cảnh gia đình: chưa vợ con. Tiền án,Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2017 - (có mặt).

*Người bị hại: Chị Trần Thị Đoan Tr , 1991.

Trú tại: nhà không số, tổ 5, khu phố 7, phường T, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 12/5/2017, Lê Quốc T điều khiển xe mô tô biển số 68AB- 02396 đi ngang qua nhà không số, tổ 5, khu phố 7, phường Thới An, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh do chị Trần Thị Đoan Tr làm chủ thấy mở cửa, không người trông coi. Tr nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, dừng xe bên ngoài rồi đi bộ vào trong nhà tìm tài sản, phát hiện chiếc điện thoại hiệu OPPO-38 Gold đang để trên đống quần áo gần chân cầu thang tầng trệt. Tr lẻn đến lấy bỏ vào túi quần phía sau rồi chạy ra ngoài, ngồi lên xe mô tô định tẩu thoát thì bị chị Tr phát chạy ra kéo xe lại và truy hô “cướp”. Quần chúng nhân dân hỗ trợ bắt quả tang cùng tang vật giao cho Công an phường Thới An.

Tại Cơ quan CSĐT Công an Quận 12, Lê Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

Tại bản kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận 12 số 196/KLĐG ngày 19/5/2017 xác định chiếc điện thoại hiệu OPPO-38 Gold có giá trị 3.400.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị hại, chiếc xe mô tô biển số 68AB- 02396 đã trả cho người liên quan.

Bản cáo trạng số 185/CTr-VKS, ngày 24/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Lê Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Quốc T khai nhận hành vi trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động hiệu OPPO. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Biên bản phạm tội quả tang, các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: Bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật vì bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lê Quốc T phát hiện căn nhà của chị Trần Thị Đoan Tr cửa mở không người trông coi, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp lẻn vào lấy 01 chiếc điện thoại di động để trên đống quần áo gần chân cầu thang và bị bắt giữ trên đường tẩu thoát. Hành vi nêu trên của Lê Quốc T đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm được quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Theo kết luâ ̣n định giá tài sản số 196/KLĐG ngày 19/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12, chiếc điện thoại di động hiệu OPPO-39 Gold có giá 3.400.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hành vi của Lê Quốc T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an địa phương.

Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục bị cáo thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời làm gương cho những người khác.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét tình tiết, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi để áp dụng điểm h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận được lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm. Hội đồng xét xử chấp nhận và không xem xét nữa.

Về vật chứng là chiếc xe mô tô đã được cơ quan điều tra trả lại cho người liên quan, nên không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Quốc T : 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2017.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ