vanban.org

Bản án 188/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 07/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T, y án sơ thẩm.

Xử phạt: Nguyễn Thị Ánh T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Thị Ánh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ánh T phạm tội theo Điều 248 - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T, y án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 248 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:188/2018/HS-PT
Ngày 07-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Đức Kỳ

Các Thẩm phán:

Ông Phan Vĩnh Chuyển

Ông Trần Minh Long

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 7/11/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2018/TLPT-HS ngày 03/10/2018 đối với bị cáo Nguyễn Thị Ánh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Ánh T, sinh ngày 15/11/1981 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: Tổ 3x, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: Số 1xx đường X, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Hướng dẫn viên du lịch; Con ông Nguyễn Xuân M (c) và bà Nguyễn Thị V (s); Có chồng là Lê Trường S (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2004; Tiền sự: Chưa; Tiền án: Ngày 26/4/2016, bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh T 10.000.000đ về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đã nộp tiền thi hành án vào ngày 27/12/2017. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 01 tháng 11 năm 2017, Nguyễn Thị Ánh T, Nguyễn Thị Mộng L, Trịnh Thị H, Lê Thị B, Trần Thị N, Nguyễn Thị Mỹ H, Ngô Thị Tuyết H, Phan Thị Kim C cùng các đối tượng tên B, M, D (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tập trung tại nhà bà Nguyễn Thị Mộng L tại tổ 5x, phường M, quận S để thanh toán tiền biêu hụi. Sau đó cả nhóm rủ nhau đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Binh xập xám”, trong đó có 04 người chơi chính gồm Phan Thị Kim C, Nguyễn Thị Ánh T, Ngô Thị Tuyết H và M, những người còn lại góp tiền đánh theo. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an phường Mân Thái phát hiện và lập biên bản, thu giữ tang vật tại hiện trường. Đồng thời kiểm tra trên người các đối tượng có phát hiện và tạm giữ một số tang vật, trong đó tạm giữ của Nguyễn Thị Ánh T số tiền 33.950.000đ, một điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu vàng, một điện thoại di động Nokia màu xanh da trời.

Qua điều tra đã xác định được hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền của các bị cáo. Trong đó, Nguyễn Thị Ánh T sử dụng 600.000đ để đánh bạc, thua 500.000đ, còn lại 100.000đ khi bị Công an phát hiện Nguyễn Thị Ánh T bỏ luôn vào ca đựng tiền xâu.

Tại Bản án sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 248 BLHS 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015.

Xử phạt: Nguyễn Thị Ánh T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 07/9/2018, bị cáo Nguyễn Thị Ánh T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo với lý do bị cáo là mẹ đơn thân còn phải nuôi con còn nhỏ và mẹ già, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, giúp cơ quan chức năng nhanh chóng làm sáng tỏ nội dung vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là có cơ sở, đúng pháp luật, do trước đó bị cáo có một tiền án về tội đánh bạc nhưng chưa chấp hành xong hình phạt chính lại tiếp tục phạm tội đánh bạc. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Ánh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 12 giờ ngày 01 tháng 11 năm 2017, bị cáo Nguyễn Thị Ánh T cùng với mười người khác tham gia đánh bạc, thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Binh xập xám”, tổng số tiền là 1.990.000đ. Trong đó bị cáo Nguyễn Thị Ánh T đánh bạc với số tiền 600.000đ. Do trước đó bị cáo có một tiền án về tội “Đánh bạc” vào năm 2016, bị xử phạt tiền 10.000.000, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt chính, nên phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích.Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng tội.

. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T thì thấy: Hành vi của bị cáo tụ tập đông người để đánh bạc, tuy số tiền đánh bạc không lớn, nhưng đã làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải xử phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình, xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù, là mức thấp nhất của khung hình phạt. Theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Vì vậy, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T, y án sơ thẩm.

2. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 248 BLHS 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015.

Xử phạt: Nguyễn Thị Ánh T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Thị Ánh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ