vanban.org

Bản án 188/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Dương Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2017. Về vật chứng: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 48 Bộ luật Hình sự xử lý; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 188/2017/HSST
Ngày: 31/10/2017.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quí.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Phúc Nguyên.

2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền - Cán bộ Tòa án Nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 184/2017/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dƣơng Văn N; sinh năm: 1983 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi ĐKHKTT: ấp 2, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở: G12/30 ấp 7, xã L, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Con ông Dương Văn Â, sinh năm: 1957 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1958; Bị cáo chưa có vợ, con;

- Tiền án: Ngày 28/5/2015 bị Tòa án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 72/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2016. Qua xác minh N chưa thi hành án phí.

Tiền sự: không;

Nhân thân:

Ngày 22/4/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 07/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/12/2005. Qua xác minh Chi cục thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh không có thụ lý tổ chức thi hành án đối với bản án.

Ngày 16/6/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 13/2006/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/12/2007. Qua xác minh Chi cục thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh thì N đã thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/7/2017 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Đỗ Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1996; HKTT: Đường T, phường Q, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Bị cáo Dương Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Dương Văn N và Lý Thị Mỹ Tr có mối quan hệ sống với nhau như vợ chồng. do không có tiền tiêu xài nên N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/7/2017 N điều khiển xe mô tô biển số 49FA-4168 chạy đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp, khi chạy đến Trường mầm non Hoa Sen (địa chỉ F4/5A ấp 6, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh) thì N phát hiện 01 máy tính Latop hiệu Asus và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy – J1 để dưới sàn ngay cửa ra vào cạnh chỗ em Đỗ Nguyễn Hữu T là sinh viên trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đang tham gia chiến dịch Mùa hè xanh tại xã Lê Minh Xuân và được bố trí ngủ qua đêm tại trường. Lúc này N nảy sinh ý định lấy trộm số tài sản trên nên sau khi chạy qua khỏi trường khoảng 100m thì N dừng xe lại và đi bộ trở lại trường trèo qua hàng rào tiến lại vị trí em T đang nằm ngủ lấy trộm máy tính laptop và điện thoại di động rồi trở ra hàng rào. Lúc này em T thức giấc phát hiện nên tri hô, thấy vậy N để máy tính laptop và điện thoại di động ở khe khung sắt hàng rào, N trèo qua hàng rào ra bên ngoài cầm lấy Laptop và điện thoại lên xe bỏ chạy. Khi về đến phòng trọ tại địa chỉ G12/30 ấp 7, xã L, huyện B, N phát hiện chân trái bị thương khi trèo qua hàng rào nên kêu chị Tr chở đến phòng khám Gia định (địa chỉ tổ 2, ấp 7, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh) để chữa trị vết thương. Khám xong do không có tiền trả nên N thế chấp điện thoại di động vừa trộm được của em T cho phòng khám.

Đến trưa ngày 26/7/2017 N mang theo Laptop lấy trộm được điều khiển xe mô tô biển số 49FA-4168 chở chị Tr đến phòng khám Gia Định trả tiền viện phí để chuộc lại điện thoại đã thế chấp nhưng khi N vừa nhận lại điện thoại thì bị công an xã Lê Minh Xuân phát hiện đưa về làm việc, lập hồ sơ ban đầu chuyển đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Bình Chánh thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh Dương Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Căn cứ vào kết luận định giá tài sản số 1505/HĐĐG-TTHS-TCKH ngày 31/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Chánh kết luận:

01 máy tính Laptop hiệu Asus giá trị 6.900.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy-J1 giá trị 975.000 đồng. tổng giá trị tài sản Dương Văn N chiếm đoạt là 7.875.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 179/CTr-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Dương Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Đối với Lý Thị Mỹ Tr quá trình điều tra tại công an xã Lê Minh Xuân, Tr khai nhận sau khi trộm cắp máy tính và điện thoại của em T thì N có kể sử việc trên cho Tr nghe. Tuy nhiên, hiện nay qua điều tra xác minh Tr không còn ở địa phương đi đâu không rõ, N khai nhận Tr không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của N nên chưa có căn cứ xem xét xử lý Tr.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Dương Văn N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và đề nghị ghi nhận cơ quan điều tra giao trả vật chứng cho chủ sở hữu, ghi nhận việc người bị hại không yêu cầu bồi thường về dân sự. Xử lý vật chứng theo qui định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

XÉT THẤY:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 25/7/2017, tại trường mầm non Hoa Sen địa chỉ F4/5A ấp 6, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Dương Văn N đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy-J1 và 01 Laptop hiệu Asus của anh Đỗ Nguyễn Hữu T thì bị phát hiện. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo bị chiếm đoạt là 7.875.000 đồng (bảy triệu tám trăm bảy mươi năm ngàn đồng).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác. Bị cáo lợi dụng sự quản lý tài sản của người khác rồi thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trái phép. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình. Bị cáo biết việc trộm cắp tài sản hợp pháp của người khác là trái với quy định của pháp luật nhưng vì vụ lợi mà bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Dương Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2009) và xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tính đến ngày phạm tội, bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự xử lý bị cáo là phù hợp.

Xét về nhân thân thì bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần vi phạm pháp luật. Ngày 22/4/2005 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo bản án số 07/HSST; Ngày 16/6/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo bản án số 13/2006/HSST; đây là các tình tiết mà Hội đồng xét xử cần xem xét khi lượng hình phạt đối với bị cáo.

Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án gồm: 01 máy tính Laptop hiệu Asus và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy-J1. Cơ quan công an đã trao trả cho em Đỗ Nguyễn Hữu T vào ngày 09/8/2017 (bút lục: 74).

Đối với xe mô tô biển số 49FA-4168. Qua xác minh chưa tìm được chủ sở hữu và cơ quan điều tra đã đăng báo nhưng chưa tìm được chủ sở hữu. nhường khai nhận mua xe trên giá 1.500.000 đồng của một người đàn ông không rõ lai lịch và khi mua bán không làm giấy tờ, đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước theo khoản 2 Điều 76 bộ luật tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa người bị hại em Đỗ Nguyễn Hữu T vắng mặt, tuy nhiên qua nghiên cứu hồ sơ em T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Dương Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009):

Xử phạt bị cáo Dương Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2017.

- Về vật chứng: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ghi nhận cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu: 01 máy tính Laptop hiệu Asus và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy-J1 cho em Đỗ Nguyễn Hữu T vào ngày 09/8/2017.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô biển số 49FA-4168

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại kho Chi cục thi hành án huyện Bình Chánh theo biên bản bàn giao vật chứng lập vào hồi 12 giờ 00 phút ngày 11/10/2017).

- Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ