vanban.org

Bản án 186/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 29/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Hồng X phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Trả lại bị cáo Bùi Thị Hồng X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro màu tím có số imei1: 352186950580796, số imei2: 352186950987900, máy cũ đã qua sử dụng lắp sim số thuê bao 0329087012. Tịch thu tiêu huỷ: 01 bật lửa màu đỏ bằng chất liệu nhựa cứng loại bật lửa ga; 01 bì thư được niêm phong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Hồng X phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Hồng X phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 119 Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 186/2026/HS ST
Ngày: 29/7/2026.
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phùng Văn Phong.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Hương Trà - Giáo viên trường Tiểu học Liên Bạt

Bà Đặng Thị Huế

- Giáo viên hưu trí tại xã Vân Đình.

- Ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Mai – Thư ký viên Toà án.

- Đại diện VKSND tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Long - Kiểm sát viên.

Mở phiên tòa ngày 29 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý sơ thẩm số 191/2026/TLST - HS ngày 10 tháng 7 năm 2026 đối với:

Bị cáo: Bùi Thị Hồng X; Sinh ngày 06/09/2009; Tên gọi khác: Không; HKTT: xóm Lột, xã Hợp Kim, tỉnh Phú T; Nơi tạm trú: xóm Bờ, xã Nật S, tỉnh Phú T; Chỗ ở H nay: thôn Nam Dương, xã Hòa Xá, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Bùi Đức H; Mẹ đẻ: Quách Thị Quỳnh; Chồng con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2026 đến nay. H đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Bùi Đức H – Sinh năm 1983; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm Lột, xã Hợp Kim, tỉnh Phú T;

Người giám hộ cho bị cáo là bà Nguyễn Thị Tâm – Sinh năm 1986; Cư trú tại thôn Bùi Lâm Thượng, xã Hoà Xá, thành phố Hà Nội.

Người bào chữa cho bị can là ông Nghiêm Đức H1 – Sinh năm 1985; Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà nội.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Đào Bảo Ngọc - Sinh năm: 2007; HKTT: Phố Mía, Hoa Lư, Ninh Bình).

Hoàng Thị Đào

- Sinh năm: 1999; HKTT: Thôn Thống Nhất 3, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện UBND xã Hợp Kim, tỉnh Phú T làm công tác xã hội tham gia tố tụng: Bà Bùi Mỹ Lệ – Công chức phòng Văn hóa xã hội xã Hợp Kim, tỉnh Phú T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Cáo trạng của VKSND và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thị Hồng X, Nguyễn Đào Bảo Ngọc và Hoàng Thị Đào đều là nhân viên quán Karaoke, cùng thuê trọ tại thôn Nam Dương, xã Hoà Xá, thành phố Hà Nội. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 21/4/2026, khi cả ba đang ở phòng trọ, X rủ Ngọc mỗi người góp 500.000đ mua ma tuý “Ke” về cùng sử dụng thì Ngọc đồng ý và cH1ển khoản cho X 500.000đ. Do không biết chỗ mua nên X nhờ Hoàng Thị Đào mua hộ 1.000.000đ ma tuý thì Đào nhận lời và gọi điện thoại cho bạn là Trương Thị Kiều Ly hỏi “có chỗ nào lấy ma túy ke không, lấy cho 1.000.000 đồng”. Ly trả lời: “Có chỗ lấy, tí nữa có người ship đến”. Sau đó, X cH1ển khoản cho Đào 1.000.000 đồng, còn Đào cH1ển khoản số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Ly ( trong đó 1.000.000 đồng là tiền mua ma túy, còn 2.000.000 đồng là tiền Đào trả nợ cho Ly ).

Sau khi nhận được tiền, Ly gọi điện chỉ vị trí cất giấu gói ma túy, Đào ra kiểm tra tại gốc bưởi gần phòng trọ thấy 01 gói bọc bằng giấy ăn màu trắng, bên trong có một túi ni lông khích thước khoảng (2x3)cm liền cầm về để tại cửa sổ của phòng trọ rồi đi ngủ. Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 22/4/2026, X đi làm về hỏi Đào “chị Đào ơi cái kia đâu”, thì Đào dậy đưa cho X gói ma túy vừa mua.

Do Ngọc vẫn chưa về nên X cất số ma tuý vào túi sách rồi nằm ngủ. Đến khoảng 8 giờ 00 phút cùng ngày, thấy Ngọc về phòng trọ, X lấy gói ma túy ra cùng sử dụng với Ngọc. X đổ ma túy vào tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, dùng bật lửa hơ nóng, rồi cuộn tờ tiền 10.000 đồng làm ống hút rồi dùng mũi hít ma tuý vào cơ thể, còn Ngọc thì dùng móng tay lấy ma tuý “Ke” rồi đưa lên mũi để hút. Sau khi sử dụng ma tuý xong, X cất tờ tiền 5.000 đồng vào túi sách, còn bật lửa và ống hút X để trên giường rồi đi ngủ tiếp.

Cùng ngày 22/4/2026, Tổ công tác công an xã Hòa Xá tiến hành kiểm tra hành chính đối với X, Ngọc và Đào. Cả ba đã thừa nhận hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy của bản thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đã ra lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Thị Hồng X, Nguyễn Đào Bảo Ngọc và Hoàng Thị Đào. Thu giữ một số tang vật gồm:

- 01 (một) ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.

- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng.

- 01 (một) bật lửa màu đỏ.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro màu tím, số emei 1: 352186950580796, emei 2: 352186950987900, máy đã qua sử dụng có lắp sim số 0329087012 thu giữ của Bùi Thị Hồng X.

Xét nghiệm tìm chất ma tuý trong nước tiểu của Bùi Thị Hồng X, Nguyễn Đào Bảo Ngọc và Hoàng Thị Đào cho kết quả Bùi Thị Hồng X, Nguyễn Đào Bảo Ngọc dương tính với ma túy loại KET (Ketamine), Hoàng Thị Đào âm tính với ma túy.

Ngày 23/4/2026, Cơ quan CSĐT - Công an TP Hà Nội ra Quyết định trưng cầu giám định số: E3268/QĐ-CSMT trưng cầu giám định mẫu nước tiểu của Bùi Thị Hồng X, Nguyễn Đào Bảo Ngọc cùng toàn bộ tang vật thu giữ đến Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an TP Hà Nội.

Tại bản kết luận giám định 4036/KL-KTHS ngày 02/5/2026 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận:

- 01 ồng hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng đều có dính ma túy loại Ketamine.

- Trong mẫu nước tiểu của Bùi Thị Hồng X và Nguyễn Đào Bảo Ngọc cùng thu ngày 23/4/2026 đều có tìm thấy ma túy loại Ketamine và có Norketamine, Dehydronorketamine (Norketamine và Dehydronorketamine là sản phẩm cH1ển hóa của ma túy Ketamine trong cơ thể người).

Tại Bản cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 08/7/2026, VKSND khu vực 12- Hà Nội đã truy tố Bùi Thị Hồng X ra trước Toà án để xét xử về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 255, các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Thị Hồng X từ 24 đến 30 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2026; Đề nghị tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng, tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động mà bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc để phạm tội, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tranh luận tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận.

Người đại diện và Người bào chữa cho bị cáo xác định việc bị cáo bị truy tố, đưa ra xét xử về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo Cáo trạng và luận tội của VKSND là đúng nhưng đề nghị HĐXX xem xét đến việc bị cáo đang trong độ tuổi chưa thành niên, bị các đối tượng xấu rủ rê lôi kéo, phạm tội chỉ với vai trò đồng phạm giúp sức... Để giảm nhẹ mức hình phạt .

Lời nói sau cùng của bị cáo là đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12- Hà Nội, của Điều tra viên và Kiểm sát viên cùng những người tiến hành tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực H đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan và của người tiến hành tố tụng...do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực H đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân, phù hợp lời khai của các đồng phạm, của nhân chứng và của chính bị cáo trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong vật chứng, Biên bản khám xét khẩn cấp, Kết luận giám định, Biên bản nhận dạng, Bản ảnh H trường... Chứng tỏ đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ ngày 21/4/2026, tại phòng trọ thuộc thôn Nam Dương, xã Hoà Xá, thành phố Hà Nội, Bùi Thị Hồng X rủ Nguyễn Đào Bảo Ngọc mỗi người góp 500.000 đồng sau đó nhờ Hoàng Thị Đào mua hộ ma tuý. Hoàng Thị Đào mua được một gói ma túy loại Ke với giá 1.000.000đ về đưa cho X. Đến khoảng 8 giờ sáng ngày 22/4/2026, X và Ngọc đã tổ chức cho nhau sử dụng hết số ma túy vừa mua.

Với các hành vi nêu trên, việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội truy tố ra trước Tòa để xét xử Bùi Thị Hồng X về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội danh, hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 255 của BLHS.

Hành vi phạm tội của bị cáo hết sức nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, tiềm ẩn nguy cơ reo rắc bệnh tật cũng như các tệ nạn trong xã hội, làm mất trật tự trị an địa phương... khiến dư luận bất bình, đòi hỏi phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với vai trò, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực H đồng thời cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo nhận thức sâu sắc về tội lỗi của mình mà ăn năn hối cải về sau và cũng là để làm gương cho những kẻ khác.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, cân nhắc đến việc bị cáo trong quá trình tố tụng tỏ ra thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải ... là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà giảm nhẹ một phần hình phạt để chứng tỏ sự nhân đạo của Pháp luật.

Do bị cáo đang trong độ tuổi chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên đương nhiên được áp dụng các quy định về Người chưa thành niên phạm tội quy định tại Luật tư pháp người chưa thành niên.

Về hình phạt bổ sung và các vấn đề liên quan:

Do bị cáo là lao động tự do, lại là trẻ vị thành niên...nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền là hợp lẽ.

Hành vi của Nguyễn Đào Bảo Ngọc, Hoàng Thị Đào và đối tượng tên Ly được Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội tách ra để điều tra xử lý trong một vụ án khác theo Quyết định tách vụ án hình sự số A17417/QĐ-CSMT ngày 26/6/2026 nên không xét trong vụ án này.

Đối với Hoàng Việt Anh là người quản lý phòng trọ của các đối tượng, không biết việc Đào, Ngọc, X tổ chức sử dụng ma túy, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro màu tím đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Thị Hồng X do không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

01 bật lửa ga màu đỏ và 01 bì thư niêm phong bên ngoài có chữ ký của Bùi Thị Hồng X, Giám định viên, Người chứng kiến…không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Các vật chứng còn lại cũng đã được tách ra để xử lý trong vụ án khác theo Quyết định tách vụ án hình sự số A17417/QĐ-CSMT ngày 26/6/2026 của Công an thành phố Hà Nội nên không xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Ngoài hình phạt, bị cáo còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật; Bị cáo và Người đại diện, Người giám hộ, Người bào chữa, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án và phần bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Hồng X phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

2. Áp dụng Khoản 1 Điều 255; Khoản 1 Điều 12; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 119, Khoản 5 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử: Phạt bị cáo Bùi Thị Hồng X 27 ( Hai mươi bảy ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2026. Tiếp tục giam bị cáo để hỗ trợ cho công tác Thi hành án.

3. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại bị cáo Bùi Thị Hồng X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro màu tím có số imei1: 352186950580796, số imei2: 352186950987900, máy cũ đã qua sử dụng lắp sim số thuê bao 0329087012.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 bật lửa màu đỏ bằng chất liệu nhựa cứng loại bật lửa ga; 01 bì thư được niêm phong sau giám định có chữ ký của đương sự Bùi Thị Hồng X, Giám định viên Nguyễn Thị Phượng, người chứng kiến Nguyễn Thị Tâm và cán bộ Vũ Văn Mạnh.

Toàn bộ tang vật nêu trên H đang lưu giữ tại Kho vật chứng và tài liệu đồ vật thuộc Công an TP Hà Nội theo Lệnh nhập vật chứng số A3864/LNK-CSMT ngày 27/4/2026 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội.

4. Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm quản lý án phí lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Bùi Thị Hồng X phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo, người đại diện theo pháp luật và người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ