- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị C - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 185/2022/HS-PT Ngày 18-8-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương;
Các Thẩm phán:
Ông Lê Sỹ Trứ;
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 và 18 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 111/2022/TLPT-HS ngày 05 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thị C, sinh năm 1978 tại tỉnh B c Giang; nơi thường trú: ấp 9, x G, huy n Đ, tỉnh Đ ng Nai; ch : số 933, đường H, khu phố 7, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghi p: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: n ; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị B; có ch ng là ông Hoàng Minh T và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị b t tạm gi ngày 17 12 2020, tạm giam đến ngày 03 02 2021 thay thế bi n pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh; bị b t tạm giam lại vào ngày 21 01 2022 cho đến nay; có mặt.
2. Phạm Trung Đ, sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Dương; nơi thường trú: số 3/33 (số cũ 933 , t 33, khu phố A, phường P, thành phố Thủ D u Một, tỉnh Bình Dương; nghề nghi p: tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Phạm Văn P và bà Nguyễn Thị L; có v là bà V Thị Cẩm T và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 25 8 2017, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về tội Cố ý làm hư h ng tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 177 2017 HSST. Bị cáo bị b t tạm gi ngày 17 12 2020, tạm giam đến ngày 03 02 2021 thay thế bi n pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh; bị b t tạm giam lại vào ngày 21 01 2022 cho đến nay; có mặt.
Người bào ch a cho các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ: ông Trương Quốc T là Luật sư của Chi nhánh Công ty Luật trách nhi m h u hạn B, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương; có đơn xin v ng mặt.
Trong vụ án còn có 03 người có quyền l i nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không tri u tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm t t như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17 12 2020, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế-Ma tuý thuộc Công an thành phố T phối h p cùng Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T trong lúc đang tu n tra trên đường Tr n Ngọc L, đoạn qua phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hi n Nguyễn Thị C đang điều khiển xe mô tô nhãn hi u Honda Vision, biển số 47L1 – 268.26 và đối tư ng Hoàng Chẻng S đang điều khiển xe mô tô nhãn hi u Honda SH Mode, biển số 59D1 – 366.97 có biểu hi n nghi vấn nên T tu n tra đ yêu c u C và S dừng xe lại để kiểm tra. Qua kiểm tra hai xe mô tô của C và của S thì T tu n tra phát hi n trên xe mô tô biển số 47L1 – 268.26 của C đang ch 600 (sáu trăm bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (trong đó có 300 bao thuốc lá hi u Hero và 300 bao thuốc lá hi u Jet); trên xe mô tô biển số 59D1 – 366.97 của S đang ch 500 (năm trăm bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (trong đó có 250 bao thuốc lá hi u Hero và 250 bao thuốc lá hi u Jet) nên T tu n tra đ lập biên bản kiểm tra hành chính đối với C và S để ghi nhận sự vi c r i đưa các đối tư ng C, S và tất cả số vật chứng nêu trên về trụ s để làm vi c. Quá trình làm vi c C khai nhận: số lư ng 1.100 (một nghìn, một trăm bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại mà Cơ quan Công an đ thu gi nêu trên là của C và ngoài ra C vẫn còn cất giấu 50 (năm mươi bao thuốc lá điếu nhập lậu hi u 555 nhà của C tại địa chỉ số 933, đường H, t 33, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và C còn gửi nhờ tại nhà của người quen, hàng xóm của C là Phạm Trung Đ thêm 1.280 (một nghìn, hai trăm tám mươi bao bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (trong đó có 680 bao thuốc lá hi u Hero và 600 bao thuốc lá hi u Jet).
Cùng ngày 17 12 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi của Nguyễn Thị C tại địa chỉ: số 933, đường Huỳnh Văn Lỹ, t 33, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hi n và thu gi 50 (năm mươi bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hi u 555 .
Đ ng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nơi của Phạm Trung Đ, tại địa chỉ: số 939, đường Huỳnh Văn Lỹ, t 33, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hi n, thu gi bên hông, phía sau nhà của Phạm Trung Đi là 1.280 (một nghìn hai trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (trong đó có 680 bao thuốc lá hi u Hero và 600 bao thuốc lá hi u Jet đ ng thời Đ khai nhận số thuốc lá này là của C gửi nhờ; phát hi n và thu gi trên xe mô tô nhãn hi u Honda Vison, biển số 61F1-35217 đang để trong sân, phía sau nhà của Đ là 1.000 (một nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (trong đó có 500 bao thuốc lá hi u Hero và 500 bao thuốc lá hi u hi u Jet) và phát hi n, thu gi trong phòng ngủ của Đ là 6.610 (sáu nghìn, sáu trăm mười) bao thuốc lá điếu các loại (trong đó có 2.000 bao thuốc lá hi u 555 , 2.360 bao thuốc lá hi u Jet, 1.900 bao thuốc lá hi u Hero và 350 bao thuốc lá hi u Caraven A.
Như vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đ phát hi n và thu gi , g m:
- Thu gi của Nguyễn Thị C, g m: 2.430 (hai nghìn, bốn trăm ba mươi bao thuốc lá điếu nhập lậu: Trong đó có 50 (năm mươi bao thuốc lá điếu nhập lậu hi u 555 ; 1.230 (một nghìn, hai trăm ba mươi bao thuốc lá hi u Hero và 1.150 (một nghìn, một trăm năm mươi bao thuốc lá hi u Jet; 01 (một) xe mô tô nhãn hi u Vision, biển số 47L1 – 268.26;
- Thu gi của Hoàng Chẻng Sáng 01 (một) xe mô tô nhãn hi u Honda SH Mode, biển số 59D1 – 366.97;
- Thu gi của Phạm Trung Đ, g m: 7.610 (bảy nghìn, sáu trăm mười) bao thuốc lá điếu nhập lậu: Trong đó có 2.400 (hai nghìn, bốn trăm bao thuốc lá hi u Hero; 2.860 (hai nghìn, tám trăm sáu mươi bao thuốc lá hi u Jet; 2.000 (hai nghìn) bao thuốc lá hi u 555 ; 350 (ba trăm lăm mươi bao thuốc lá hi u Caraven A và 01 (một) xe mô tô nhãn hi u Honda Vison, biển số 61F1-35217.
Cùng ngày 17 12 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đ ra Quyết định gi người trong trường h p khẩn cấp đối với Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ về hành vi có dấu hi u phạm tội Buôn bán hàng cấm, quy định tại khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với đối tư ng Hoàng Chẻng S là con ruột của Nguyễn Thị C thì vào ngày 17/12/2020, C đ nhờ Sáng ch 500 (năm trăm bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại đi bán cho một đối tư ng (không rõ họ tên, lai lịch cụ thể) tại khu vực thị xã B, tỉnh Bình Dương thì bị Lực lư ng công an phát hi n. Do đây là l n đ u tiên S ch thuốc lá cho C và số lư ng chỉ có 500 (năm trăm bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại nên không đủ định lư ng để xử lý hình sự đối với S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ D u Một đ không áp dụng bi n pháp ngăn chặn gi người trong trư ng h p khẩn cấp đối với Sáng. Ngày 04/6/2021, Uỷ ban nhân dân thành phố T đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo v quyền l i người tiêu dùng số 301 đối với Hoàng Chẻng S, với mức phạt tiền là 40.000.000 (bốn mươi tri u) đ ng.
Quá trình làm vi c Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ khai nhận: từ khoảng đ u tháng 9/2020, do không có công vi c n định nên C đ đi đến các khu vực thuộc địa bàn tỉnh Long An để tìm các đ u mối bán thuốc lá điếu nhập lậu các loại để mua đem về bán lại cho các cửa hàng tạp hoá trên địa bàn tỉnh Bình Dương để thu l i bất chính. Đến khoảng đ u tháng 11/2020, do có mối quan h quen biết và g n nhà với C nên Đ biết đư c vi c C có buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu các loại nên Đ đ gặp và nói với C cho Đ đi buôn thuốc lá cùng C để có tiền tiêu xài. Cũng trong khoảng thời gian này, C đ đưa Đ đi đến tỉnh Long An để gặp các đ u mối bán thuốc lá điếu nhập lậu để mua thuốc lá điếu nhập lậu các loại về bán và thu l i bất chính. Sau đó, khi Đ c n nhập thuốc lá điếu nhập lậu về bán thì Đ sẽ gặp C và nhờ C gọi đi n thoại liên h với các đối tư ng buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu để đặt mua. Tiếp đó, các đối tư ng bán thuốc lá điếu nhập lậu sẽ ch số thuốc lá theo số lư ng mà C và Đ đ đặt từ trước đến nhà của Đ. Tại đây, C và Đ sẽ nhận thuốc lá điếu nhập lậu và trả tiền cho các đ u mối bán thuốc lá. Sau đó, C sẽ gửi số thuốc lá đ mua đư c phía sau hông nhà của Đ r i bán d n, còn Đ thì cất số thuốc lá đ mua vào trong phòng ngủ. Riêng số thuốc lá mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đ thu gi của Đ và C vào ngày 17 12 2020 là do Đ và C gọi đi n thoại cho các đối tư ng buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu tại tỉnh Long An mua về giao tại nhà Đ vào các ngày 16 12 2020 và ngày 17 12 2020 để bán, tuy nhiên Đ và C chưa bán hết thì bị phát hi n, thu gi .
Quá trình điều tra Nguyễn Thị C khai nhận: tính từ khoảng đ u tháng 9 2020 cho đến ngày bị b t 17/12/2020, Chỉ đ thu l i bất chính đư c từ hành vi buôn bán thuốc là điếu ngoại nhập lậu là 18.000.000 (mười tám tri u đ ng. Ngày 06/10/2021, C đ tự nguy n nộp lại số tiền nêu trên vào Chi cục Thi hành án hình sự thành phố T để đảm bảo vi c thi hành án.
Đối với Phạm Trung Đ khai nhận: tính từ khoảng đ u tháng 11/2020 cho đến ngày bị b t 17 12 2020, Điền đ thu l i bất chính đư c từ hành vi buôn bán thuốc là điếu ngoại nhập lậu là 12.000.000 (mười hai tri u đ ng. Ngày 06 10 2021, Đ đ tự nguy n nộp lại số tiền nêu trên vào Chi cục Thi hành án hình sự thành phố T để đảm bảo vi c thi hành án.
Đối với các đối tư ng mua, bán thuốc lá điếu nhập lậu với Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ, quá trình điều tra, xác định: C và Đ không biết rõ nhân thân, lai lịch cụ thể của các đối tư ng nêu trên. Ngoài ra, chiếc đi n thoại di động mà Chỉ sử dụng để liên lạc với các đối tư ng mua, bán thuốc lá điếu nhập lậu thì C đ làm mất khi bị Lực lư ng công an phát hi n nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không thu gi đư c. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chưa đủ cơ s để điều tra, xác minh làm r đối với các đối tư ng nêu trên.
Đối với 10.040 (mười nghìn, không trăm bốn mươi bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, cụ thể là: 2.050 (hai nghìn, không trăm năm mươi bao thuốc lá điếu nhập lậu hi u 555 ; 3.630 (ba nghìn, sáu trăm ba mươi bao thuốc lá hi u Hero; 4.010 (bốn nghìn, không trăm mười) bao thuốc lá hi u Jet và 350 (ba trăm lăm mươi bao thuốc lá hi u Caraven A. Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T đ ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, đề nghị Toà án nhân dân thành phố T quyết định tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hi u honda SH mode, màu đ , số khung: RLHJF5118FY029859, số máy: JF51E0257818, biển số 59D1-366.97 thu gi của Hoàng Chẻng S, quá trình điều tra xác định: chiếc xe mô tô trên có biển số thật là 61E1-522.75 do chị Nguyễn Huỳnh T, sinh năm 1983, cư trú tại khu phố T, phường Tân Vĩnh H, thị xã T, tỉnh Bình Dương đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Vào khoảng tháng 4/2016, chị T dựng xe trước nhà của của chị T thì bị kẻ gian lấy trộm và sau đó chị T có đến Công an phường T để trình báo sự vi c nêu trên. Quá trình làm vi c, Nguyễn Thị C khai nhận: vào khoảng năm 2020, C đ mua lại chiếc xe mô tô trên từ một người n (không rõ họ tên và nơi cư trú cụ thể) tại huy n Đ, tỉnh Long An, do xe đ cũ nên khi mua và không có giấy tờ xe nên C không làm giấy tờ mua bán xe. Ngoài ra, C không biết chiếc xe mô tô trên là tài sản do trộm c p mà có. Ngày 29 6 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đ bàn giao chiếc xe mô tô nhãn hi u honda SH Mode màu đ , số khung: RLHJF5118FY029859, số máy: JF51E0257818 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bình Dương để tiến hành điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Đối với chiếc biển số xe mô tô số 59D1-366.97, quá trình điều tra xác định: chiếc biển số này là của chiếc xe mô tô nhãn hi u Yamaha Nouvo, màu đ -đen, số khung: P1108Y-033077, số máy: 5P11-033077 do anh Nguyễn Trường L, sinh năm 1990, cư trú tại số 538, đường H, Phường B, Quận C, Thành phố H Chí Minh làm chủ. Qua xác minh tại địa chỉ nêu trên, xác định: hi n tại anh Nguyễn Trường L đ bán nhà và chuyển đi đâu địa phương không r nên chưa tiến hành làm vi c đư c với anh Lam. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục gi lại chiếc biển số xe mô tô số 59D1-366.97 để xác minh làm rõ. Hi n tại, Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố T đ ban hành Yêu c u điều tra số 186/YC-VKS-HS ngày 06/10/2021, yêu c u Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ D u để có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hi u Honda Vision, biển số 47L1-268.26, số khung: RLHJF5830JY474046, số máy JF86E0070415 thu gi của Nguyễn Thị C, quá trình điều tra, xác định: chiếc xe mô tô trên do chị Đoàn Thị Thúy N. Ngày 17/12/2020, chị N cho C mư n chiếc xe mô tô nêu trên để đi công vi c, sau đó C tự ý sử dụng làm để làm phương ti n thực hi n hành vi phạm tội thì chị N không biết. Ngày 22 6 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 72 để giao trả chiếc xe mô tô trên cho chị N.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hi u Honda Vision, biển số 61F1- 35217, số khung: 5816GY529431, số máy: JF66E0465874 thu gi của Phạm Trung Đ, quá trình điều tra xác định: chiếc xe này của chị Võ Thị Cẩm T. Ngày 17/12/2020, chị Thu cho Điền mư n chiếc xe mô tô trên đi công vi c, sau đó Đ tự ý sử dụng chiếc xe để làm phương ti n thực hi n hành vi phạm tội thì chị Thu không biết. Ngày 22 6 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 73 để giao trả chiếc xe mô tô trên cho chị T.
Cáo trạng số: 191/CT-VKS-HS ngày 06/10/2021 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Nguyễn Thị C, Phạm Trung Đ về tội Buôn bán hàng cấm theo điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đ quyết định:
1. Về trách nhi m hình sự: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C, Phạm Trung Đ phạm tội Buôn bán hàng cấm .
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 10 (mười năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 01 2022 đư c khấu trừ thời gian tạm gi , tạm giam từ ngày 17 12 2020 đến ngày 03/02/2021.
2.2. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Trung Đ 09 (chín năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 01 2022 đư c khấu trừ thời gian tạm gi , tạm giam từ ngày 17 12 2020 đến ngày 03/02/2021.
3. Về bi n pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 2.050 (hai nghìn không trăm năm mươi bao thuốc lá hi u 555; 3.630 (ba nghìn sáu trăm ba mươi bao thuốc lá điếu nhập lậu hi u Hero; 4.010 (bốn nghìn không trăm mười bao thuốc lá điếu nhập lậu hi u Jet; 350 (ba trăm năm mươi bao bao thuốc lá điếu nhập lậu hi u Caraven A.
- Buộc Nguyễn Thị C nộp số tiền 18.000.000 đ ng (mười tám tri u đ ng) thu l i bất chính sung ngân sách Nhà nước đư c khấu trừ vào số tiền đ nộp theo biên lai thu tiền số AA/2014/0000258 ngày 06/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.
- Buộc Phạm Trung Đ nộp số tiền 12.000.000 đ ng (mười hai tri u đ ng thu l i bất chính sung ngân sách Nhà nước đư c khấu trừ vào số tiền đ nộp theo biên lai thu tiền số AA/2014/0000257 ngày 06/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/02/2022, các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại di n Vi n Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: xác định tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không cung cấp đư c tình tiết giảm nhẹ mới, tuy nhiên các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự, cấp sơ thẩm xử phạt mức hình phạt là nặng, đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, đề nghị giảm m i bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Người bào ch a Trương Quốc T bào ch a cho các bị cáo v ng mặt tại phiên tòa và có văn bản trình bày lời bào ch a: thống nhất tội danh cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo; đề nghị xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự sau cho các bị cáo: hành vi của các bị cáo gây thi t hại không lớn (12.000.000 đ ng ; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo tự nguy n nộp tiên thu l i bất chính để đảm bảo vi c thi hành án; tích cực h p tác với cơ quan có trách nhi m trong vi c phát hi n tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; là lao động chính trong gia đình, nuôi con nh ; bị cáo Đ có ông là Li t sỹ đư c tặng bằng T quốc ghi công; bị cáo C có chú là Li t sỹ đư c tặng bằng T quốc ghi công và có nhân thân tốt. Do các bị cáo có 02 tỉnh tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận.
Các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ nói lời sau cùng: đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong h sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ đư c thực hi n trong thời hạn luật định nên đủ điều ki n để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ đ khai nhận hành vi phạm tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài li u, chứng cứ có trong h sơ. Do đó, có đủ cơ s xác định: khoảng 07 giờ 30 phút ngày 17 12 2020, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma tuý thuộc Công an thành phố T phối h p cùng Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T trong lúc đang tu n tra trên đường Tr n Ngọc L, đoạn qua phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hi n và thu gi của Nguyễn Thị C số lư ng 1.100 (một nghìn một trăm bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại hi u Jet và Hero. Cùng ngày, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma tuý thuộc Công an thành phố T phối h p cùng Công an phường P tiến hành khám xét nơi của của Phạm Trung Đ thì phát hi n, thu gi 1.280 (một nghìn hai trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (trong đó có 680 bao thuốc lá hi u Hero và 600 bao thuốc lá hi u Jet mà Đ khai nhận số thuốc lá này là của C gửi nhờ; phát hi n và thu gi trên xe mô tô nhãn hi u Honda Vison, biển số 61F1-35217 đang để trong sân phía sau nhà của Đ là 1.000 (một nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (trong đó có 500 bao thuốc lá hi u Hero và 500 bao thuốc lá hi u hi u Jet); thu gi trong phòng ngủ của Đ 6.610 (sáu nghìn, sáu trăm mười) bao thuốc lá điếu các loại (trong đó có 2.000 bao thuốc lá hi u 555 , 2.360 bao thuốc lá hi u Jet, 1.900 bao thuốc lá hi u Hero và 350 bao thuốc lá hi u Caraven A. Ngoài ra, lực lư ng Công an còn phát hi n và thu gi tại nơi của Nguyễn Thị C tại số 933, đường H, t 33, khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương số lư ng 50 (năm mươi bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hi u 555 . Số thuốc lá nêu trên C và Đ đều khẳng định là do C li n h với các đối tư ng bán thuốc lá điếu nhập lậu địa bàn tỉnh Long An mua về cất giấu tại nhà của Đ nhằm mục đích buôn bán. Như vậy, t ng số lư ng thuốc lá điếu nhập lậu là 10.040 (mười nghìn không trăm bốn mươi bao (hi u 555, Jet, Hero, Caraven A . Do đó, hành vi mà các bị cáo thực hi n đ đủ yếu tố cấu thành tội Buôn bán hàng cấm với tình tiết định khung đư c quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo tội danh, khung hình phạt và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ: các bị cáo kháng cáo tuy không cung cấp thêm đư c tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự mới nhưng tại bản án sơ thẩm xác định bị cáo Đ phải chịu trách nhi m chung với bị cáo C t ng số lư ng 10.040 (mười nghìn không trăm bốn mươi bao (hi u 555, Jet, Hero, Caraven A là chưa chính xác, bị cáo Đ chỉ phải chịu trách nhi m hình sự đối với số lư ng bị cáo nhờ bị cáo C mua giùm cho bị cáo, bị cáo C ngoài chịu trách nhi m hình sự số lư ng thuốc lá của bị cáo thì bị cáo C còn chịu trách nhi m hình sự đ ng phạm với số lư ng thuốc lá của bị cáo Đ. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự, không có tình tiết tăng nặng, đủ điều ki n áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, tuy nhiên đối với bị cáo C áp dụng Điều 54 là không nghiêm nên không áp dụng.
Đại di n Vi n Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của các bị cáo là phù h p, tuy nhiên mức đề nghị là chưa phù h p như nhận định nêu trên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đ ng xét xử quyết định xử phạt thấp hơn mức đề nghị.
Người bào ch a cho các bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo Điền dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo C, Đ là phù h p với nhận định của Hội đ ng xét xử nên đư c chấp nhận; riêng đề nghị xử phạt bị cáo C dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không có căn cứ nên không đư c chấp nhận.
Các ph n khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đ có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: do yêu c u kháng cáo của các bị cáo đư c chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, các Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ.
2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương về hình phạt.
2.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ phạm tội Buôn bán hàng cấm .
2.2. Về áp dụng Điều luật và hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 01 2022 đư c khấu trừ thời gian tạm gi , tạm giam từ ngày 17 12 2020 đến ngày 03 02 2021.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017: xử phạt bị cáo Phạm Trung Đ 07 (bảy năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 01 2022 đư c khấu trừ thời gian tạm gi , tạm giam từ ngày 17 12 2020 đến ngày 03 02 2021.
3. Án phí hình sự phúc thẩm:
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14, ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Thị C và Phạm Trung Đ không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đ có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vi n Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thành phố T (3); - Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố T; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T; - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương; - Công an thành phố T; - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Nh ng người tham gia tố tụng (3 ; - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bình Dương (3 ; - T Hành chính tư pháp (2 ; - Lưu: h sơ vụ án, LTH, 18. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Quân Vƣơng |