- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HH - TPT"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn ly hôn của ông HH. Ông HH được ly hôn với bà TPT.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ———————— Bản án số: 185/2019/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2019 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Quyết Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Năm và bà Đỗ Thị Thái
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lưu Việt Thắng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Thắng – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án sơ thẩm thụ lý số 129/2019/LHST ngày 14 tháng 8 năm 2019 về việc "Ly hôn".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2019/QĐXX-ST ngày 26/9/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 181/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18/10/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 234/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15/11/2019 và Thông báo mở lại phiên tòa số 138/TB-TA ngày 20/11/2019, giữa:
* Nguyên đơn: Ông HH, sinh năm 1956
Địa chỉ: Gnadenberger Strβe 29, 92348 Berg b.Neumarkt i.d. Opf, Công hoà liên bang Đức.
Đại diện uỷ quyền: Bà Dương Tuyết Minh – sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số 3 ngõ 174/22 phố Mai Anh Tuấn, phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.
* Bị đơn: Bà TPT, sinh năm 1958
HKTT: 15B Đỗ Ngọc Du, phường Đồng Nhân, Hai Bà Trưng, Hà Nội (Nay là 35 Đỗ Ngọc Du).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn là ông HH trình bày:
Tháng 4 năm 2017, ông HH từ Cộng hoà liên bang Đức về Việt Nam thăm quê hương và được bạn bè giới thiệu làm quen với bà TPT. Sau đó ông HH lại quay về Cộng hoà liên bang Đức tiếp tục sinh sống nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với bà TPT. Ngày 02/3/2018, ông HH về Việt Nam và làm thủ tục đăng ký kết hôn với bà TPT tại UBND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Sau khi kết hôn, ông ăn ở sinh hoạt tại nhà bà TPT khoảng 7 ngày thì quay lại Đức, còn bà TPT vẫn ở lại Việt Nam. Đến ngày 19/7/2018, ông có mời bà TPT sang Đức và vợ chồng ăn ở với nhau được khoảng một tháng. Trong thời gian chung sống hai bên đã nảy sinh nhiều bất đồng trong lối sống nên bà TPT đã quay trở về Việt Nam sinh sống từ đó cho đến nay. Thời gian đầu bà TPT thường xuyên nhắn tin xúc phạm ông, sau đó thì hai bên không còn liên lạc được với nhau nữa. Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với bà TPT.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là bà TPT vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Ông HH có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà TPT vắng mặt không có lý do, tuy đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội phát biểu:
Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà TPT vắng mặt, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng nên việc đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định. Xét quan hệ hôn nhân giữa ông HH và bà TPT có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Xét mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận đơn ly hôn của ông HH. Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, công nợ chung: Ông HH trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà TPT trình bày còn vướng mắc tài sản chung nhưng bà không đến Tòa án làm việc và không xuất trình các tài liệu chứng cứ chứng minh về việc có tài sản chung với ông HH. Do đó, dành quyền khởi kiện cho các bên đương sự về việc chia tài sản chung nếu các bên yêu cầu và có tài liệu chứng minh cho yêu cầu đó.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông HH có đơn xin vắng mặt, bà TPT vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Ông HH kết hôn với bà TPT, có đăng ký kết hôn tại UBND quận Hai Bà Trưng, Hà Nội vào ngày 02/3/2018. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian chung sống giữa vợ chồng ngắn, mỗi người ở một nơi.
Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị của ông HH xin được ly hôn với bà TPT là chính đáng. Do vậy, chấp nhận đơn khởi kiện của ông HH.
Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Ông HH trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà TPT trình bày còn vướng mắc tài sản chung nhưng bà không đến Tòa án làm việc và không xuất trình các tài liệu chứng cứ chứng minh về việc có tài sản chung với ông HH. Do đó, dành quyền khởi kiện cho các bên đương sự về việc chia tài sản chung nếu các bên yêu cầu và có tài liệu chứng minh cho yêu cầu đó.
Về án phí: Ông HH phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 464, Điều 469, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận đơn ly hôn của ông HH. Ông HH được ly hôn với bà TPT.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các bên đương sự về việc chia tài sản chung nếu các bên yêu cầu và có tài liệu chứng minh cho yêu cầu đó.
4. Về án phí: Ông HH phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 13286 ngày 21/6/2019 tại Cục thi hành án dân sự Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm.
Ông HH có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà TPT có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND Hà Nội; - Cục THADS HN; - UBND quận Hai Bà Trưng, HN; - Các đương sự; - Lưu; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Quyết Thắng |