vanban.org

Bản án 185/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 09/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Xuân V, sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Mai Xuân V 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2016. Về án phí: Bị cáo không phải chịu 200.000 đồng án phí HSPT. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Xuân V phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Xuân V, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 185/2017/HSPT
Ngày: 09-8-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hương.

Các thẩm phán: Ông Trần Nam Phương;

Ông Nguyễn Văn Thành.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Cao Thị Minh

Đại diện VKSND tỉnh Đồng Nai: Ông Phan Hoàng Quân - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 09 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2017/HSPT ngày 19-6-2017 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án sơ thẩm số 36/2017/HSST ngày 10-5-2017 của TAND huyện L.

Bị cáo có kháng cáo:

Mai Xuân V, sinh năm 1992 tại Bình Định; HKTT: Ấp V1, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Định; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: thợ hàn; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Mai Xuân T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Ngày 11-4-2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số: 101/2016/HSPT. Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt từ ngày 25-12-2016. (Có mặt)

(Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại Đào Thanh P nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa không triệu tập)

NHẬN THẤY

Theo án hình sự sơ thẩm: Vào lúc 13 giờ ngày 25-12-2016, Mai Xuân V đi đến khu vực ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai phát hiện có 02 con bò đang ăn cỏ tại khu vực đường cao tốc không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp bò bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, V đi đến dắt 01 con bò đực màu nâu đỏ, nặng khoảng 200kg, cao1,5m. Sau khi dẫn bò đi khoảng 400m thì bị anh Hồ Thanh V1 phát hiện và báo cho chủ bò là anh Đào Thanh P, rồi cùng đuổi bắt V và giao cho Công an xã L lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 123 ngày 28-12-2016 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết luận:

- 01 con bò màu nâu đỏ, cao 1,5m, nặng 200kg, có giá trị 15.250.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

Vật chứng vụ án:

- 01 con bò màu nâu đỏ, cao 1,5m, nặng 200kg, đã trả cho chủ sở hữu.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202 màu xám, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo V.

Tại cơ quan điều tra Công an huyện L, thời gian đầu bị bắt bị cáo V khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên nhưng đến ngày 06-02-2017 bị cáo đã phản cung chối tội không thừa nhận thực hiện hành vi trộm cắp mà khai lại rằng: “Có một người đàn ông tên H khoảng 50 tuổi nhờ dắt con bò nói trên ra ngã tư LA, huyện L, tỉnh Đồng Nai và trả cho 500.000 đồng nhưng chưa được trả tiền” (Bút lục 51, 72). Trong quá trình điều tra bị cáo V không chứng minh được ông H là ai, có lai lịch như thế nào và không biết con bò mình dẫn là của ai.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2017/HSST ngày 10-5-2017 của TAND huyện L đã áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS; điểm g khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS xử phạt: bị cáo Mai Xuân V 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25-12-2016.

Ngày 15-5-2017, bị cáo V kháng cáo kêu oan, không thừa nhận hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét kháng cáo.

Đại diện VKSND tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa cho rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất tình hình trật tự xã hội tại địa phương nên cần được xử lý nghiêm trước pháp luật. Quá trình điều tra đã thể hiện đầy đủ chứng cứ để kết luận bị cáo phạm tội và cũng không có sự đánh đập, mớm cung như bị cáo đã nêu. Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Quá trình điều tra đã thể hiện vào lúc 13 giờ ngày 25-12-2012, tại ấp A, xã L, huyện L, bị cáo Mai Xuân V đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi 02 con bò đang cột ở gốc cây cho ăn cỏ, bị cáo đã tự động tháo dây buộc và dắt 01 con bò đực, trị giá 15.250.000đ với mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi được khoảng 400m, thì bị người dân phát hiện báo cho anh Đào Thanh P, là chủ bò biết. Đồng thời, báo công an xã L lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại phiên tòa phúc thẩm, lúc đầu bị cáo còn loanh quanh không thừa nhận hành vi trộm cắp của mình mà cho rằng do bị đánh đập, ép cung nên đã phải thừa nhận hành vi trộm bò. Tuy nhiên, sau đó bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 25-12-2016 của công an xã L (Bút lục 01) phù hợp lời khai của người bị hại Đào Thanh P và người làm chứng Hồ Thanh V1 tại các Bút lục 01, 02 và nhất là bản tự khai ban đầu của bị cáo tại bút lục 09; Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Mai Xuân V đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, bị cáo vừa mới ra tù cũng với hành vi “Trộm cắp tài sản” (trộm cắp bò), chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội là “tái phạm” nên cần giành cho bị cáo mức án thật nghiêm tương xứng với hành vi, tính chất phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội quả tang nhưng trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo vẫn loanh quanh không nhận tội cho thấy bị cáo vẫn chưa ăn năn hối cải. Do đó, mức án 01 năm 06 tháng tù cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, sau phần tranh luận bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, đây là tình tiết mới, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm điểm p khoản 1 điều 46 BLHS để giảm 01 phần hình phạt cho bị cáo là có cơ sở, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải.

Quan điểm của đại diện VKS tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 BLTTHS.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Xuân V, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS; điểm g, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS.

Xử phạt: bị cáo Mai Xuân V 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2016.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu 200.000 đồng án phí HSPT.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ