vanban.org

Bản án 184/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Nguyễn Thanh N, sinh năm 1994; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 101/51 đường Phạm Đình Hổ, Phường 2, Quận 6 (nay là phường Bình Tây), Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 101/51 đường Phạm Đình Hổ, Phường 2, Quận 6 (nay là phường Bình Tây), Thành phố Hồ…

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Nguyễn Thanh N, sinh năm 1994; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 101/51 đường Phạm Đình Hổ, Phường 2, Quận 6 (nay là phường Bình Tây), Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 101/51 đường Phạm Đình Hổ, Phường 2, Quận 6 (nay là phường Bình Tây), Thành phố Hồ…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 184/2025/HS-ST
Ngày 28/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Sơn;

Ông Lưu Bình Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Châu – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Trần Nguyên Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh N, tên gọi khác: Không có; sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: đường P, Phường 2, Quận 6 (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: đường P, Phường 2, Quận 6 (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn A T và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 23/01/2018, bị Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2018/HSST. Ngày 27/01/2022, đã chấp hành xong hình phạt tù theo Giấy chứng nhận số: 117/GCN của Trại giam Xuân Lộc. Nguyễn Thanh N chưa nộp phạt 5.000.000 đồng và nộp lại 500.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; Nhân thân: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2025 tại Trại tạm giam Chí Hòa - Phân trại tạm giam khu vực Quận 6 (nay là Trại tạm giam Chí Hòa - Phân trại tạm giam Bình Tiên); Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 10 tháng 4 năm 2025, Tổ Công tác 363 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến trước nhà số 540 đường Hồng Bàng, Phường 16, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Trần Bửu L đang điều khiển xe mô tô, biển số 59KA-212.00 có biểu hiện nghi vấn. Qua test nhanh L dương tính với ma túy loại Methamphetamine, L thừa nhận sử dụng ma túy do người tên N cung cấp. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra xử lý.

Tiến hành mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra xác định Nguyễn Thanh N sống tại nhà số: đường P, Phường 2, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh là người cung cấp ma túy cho Trần Bửu L sử dụng vào ngày 10/4/2025 nên đã mời N về trụ sở Công an để làm việc. Qua khám xét tại nơi ở của N thu giữ: 01 nỏ thủy tinh bên trong có dính tinh thể không màu.

Tại bản kết luận giám định số: 5089/KL-KTHS ngày 18/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể trong ống thuỷ tinh cần giám định được ký hiệu m không xác định được khối lượng, tìm thấy Methamphetaminne ở dạng vết.

Tại Cơ quan điều tra Trần Bửu L và Nguyễn Thanh N khai nhận: Bản thân L và N là người nghiện ma túy. Trước đó, L và N đã từng hùn tiền mua ma túy của đối tượng tên Nguyễn Lê Phúc (chưa rõ lai lịch) để cả hai về sử dụng riêng. Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10/4/2025, Phúc cho N 01 ống thủy tinh chứa ma túy đá. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, L đến nhà N tại địa chỉ đường Phạm Đình Hổ, Phường 2, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và nói có chuyện buồn. Lúc này, N kêu L sử dụng ma túy để giải tỏa tâm lý và đưa ống thủy tinh bên trong chứa ma túy cho L để sử dụng, L đồng ý. Sau đó, L tự mang đi ra ngoài sử dụng một mình tại trước nhà không số đối diện nhà số 154E/12 đường Lê Quang Sung, Phường 2, Quận 6. Sau khi sử dụng xong, L mang ống thủy tinh đã sử dụng hết đem trả lại cho N cất giữ. Vào lúc 22 giờ 00 phút, ngày 10/4/2025 L đang đi đến trước số 540 đường Hồng Bàng, Phường 16, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an kiểm tra phát hiện như nêu trên. Lời khai của N và L phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng và tài sản thu giữ:

- 01 USB ghi nhận sự việc;

- 01 ống thuỷ tinh dính tinh thể ma túy loại Methamphetaminne ở dạng vết;

- 01 điện thoại di động hiệu NOKIA model RM-944, màu đỏ đã qua sử dụng, gắn sim điện thoại số: 0589579159, N dùng để sử dụng liên lạc mua ma túy.

Bản cáo trạng số: 125/CT-VKS-KV3 ngày 23 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh N từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và hướng xử lý vật chứng như sau:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số 1583/25 cùng chữ ký niêm phong lại của Giám định viên và Điều tra viên, bên trong có 01 ống thủy tinh dính tinh thể (không xác định được khối lượng), là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma tuý.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia model RM-944, màu đỏ, đã qua sử dụng, có chứa 01 sim điện thoại số: 0589579159 bị cáo N dùng liên lạc mua ma túy.

- Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Đưa lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận sự việc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

Vào ngày 10/4/2025, tại nhà số 101/51 đường Phạm Đình Hổ, Phường 2, Quận 6 (nay là phường Bình Tây) Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Nguyễn Thanh N đã có hành vi cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy để Trần Bửu L đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể. Lời khai nhận của bị cáo N phù hợp với lời khai của Trần Bửu L. Hành vi của bị cáo N đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc gây nguy hiểm cho xã hội khi thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, nên có lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, đặc biệt là các chất gây nghiện thuộc danh mục các chất ma túy, tiền chất và các chất hóa học tham gia vào quá trình chế tạo các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, đồng thời làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với Trần Bửu L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an Phường 2, Quận 6 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0009399/QĐ-XPHC ngày 17/4/2025 phạt tiền 1.500.000 đồng.

Đối với đối tượng bán ma túy tên Nguyễn Lê Phúc (chưa rõ lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đang điều tra làm rõ, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo N đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không cần bắt bị cáo phải chịu phạt tiền là hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số 1583/25 cùng chữ ký niêm phong lại của Giám định viên và Điều tra viên, bên trong có 01 ống thủy tinh dính tinh thể (không xác định được khối lượng), là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma tuý.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu NOKIA model RM-944, màu đỏ đã qua sử dụng, có chứa 01 sim điện thoại số: 0589579159, bị cáo N dùng liên lạc mua ma túy.

- Đã lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận sự việc.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38, Điều 50; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thanh N;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2025.

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số 1583/25 cùng chữ ký niêm phong lại của Giám định viên và Điều tra viên, bên trong có 01 ống thủy tinh dính tinh thể (không xác định được khối lượng).

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu NOKIA model RM-944, màu đỏ đã qua sử dụng, có chứa 01 sim điện thoại số: 0589579159.

(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- TAND - VKSND TPHCM;

- Sở Tư pháp TPHCM;

(Đã ký)

- PC 27 - CA TPHCM;

- VKSND KV3;

- Công an Thành phố Hồ Chí Minh;

- Phòng THADS KV3;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 08 giờ 55 phút, ngày 28 tháng 11 năm 2025.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Sơn;

Ông Lưu Bình Minh.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025, đối với:

Bị cáo Nguyễn Thanh N, sinh năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào Điều 38, Điều 50; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thanh N;

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

2. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

3. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2025.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

4. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói được niêm phong, bên ngoài có ghi vụ số 1583/25 cùng chữ ký niêm phong lại của Giám định viên và Điều tra viên, bên trong có 01 ống thủy tinh dính tinh thể (không xác định được khối lượng).

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu NOKIA model RM-944, màu đỏ đã qua sử dụng, có chứa 01 sim điện thoại số: 0589579159.

(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

5. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

6. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 10 phút, ngày 28 tháng 11 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử

cùng nghe và ký tên./.

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––

–––––––––––––––––––––––––––––––

Tp.HCM, ngày 28 tháng 11 năm 2025

Số: 645/2025/HSST-QĐTG

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Hoàng Sơn;

- Ông Lưu Bình Minh

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Tạm giam bị cáo: Nguyễn Thanh N, sinh năm 1994; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 101/51 đường Phạm Đình Hổ, Phường 2, Quận 6 (nay là phường Bình Tây), Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 101/51 đường Phạm Đình Hổ, Phường 2, Quận 6 (nay là phường Bình Tây), Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.

Điều 2

Trại tạm giam Chí Hòa - Phân trại tạm giam Bình Tiên, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ