vanban.org

Bản án 183/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 27/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Ngô Huy H1, Nguyễn Trung H2, Nguyễn Hoàng M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Bá H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T và đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Ngô Huy H1, Nguyễn Trung H2, Nguyễn Hoàng M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Bá H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2023/HS-ST
Ngày: 27-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Sơn, ông Vũ An Quản

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Băng Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 170/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 tại Hải Dương.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại số 91 N, phường T1, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; có vợ là chị Vũ Thị Giao T3 và 02 con (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/02/2023 chuyển tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Bá H, sinh năm 1977 tại Hải Dương.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại số 47A/293 N1, phường T1, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá K và bà Lê Thị Đ; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 178/2018/HSST ngày 12/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 22/7/2019, nộp án phí ngày 19/9/2018.

- Ngày 18/01/2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc 24 tháng.

Bị tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).

3. Ngô Huy H1, sinh năm 1978 tại Hải Dương.

Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại thôn H3, xã T4, huyện T5, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T6 (đã chết) và bà Lưu Thị L; có vợ là Nguyễn Thị D và 01 con sinh năm 2011; tiền sự: Không.

Tiền án:

- Bản án số 10/2013/HSST ngày 25/4/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/02/2015.

- Bản án số 202/2015/HSST ngày 24/11/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/02/2018, nộp án phí ngày 20/01/2016.

- Bản án số 217/2015/HSST ngày 10/12/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/02/2018, nộp án phí ngày 10/12/2015.

- Bản án số 106/2019/HS-ST ngày 31/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 19/8/2021.

Nhân thân:

- Ngày 24/02/2006, Trưởng Công an thành phố Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền 100.000đ (đã nộp phạt ngày 27/02/2006).

- Ngày 17/12/2008, Phòng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Mua dâm.

- Ngày 30/8/2012, Trưởng Công an thành phố Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Bản án số 100/2006/HSST ngày 30/5/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản chiếm đoạt 410.000đ), nộp án phí tháng 7/2006.

- Bản án số 193/2007/HSST ngày 14/12/2007 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản chiếm đoạt 600.000đ), nộp án phí ngày 17/11/2008.

Bị tạm giữ từ ngày 17/02/2023 chuyển tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).

4. Nguyễn Trung H2, sinh năm 1986 tại Hải Dương.

Đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 8/34 L, phường N2, thành phố H, tỉnh Hải Dương; trú tại số 2/69 L1, phường N3, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh C và bà Hoàng Thị T7; có vợ là Bùi Thị L2 và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/3/2019, Trưởng Công an thành phố Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền 1.500.000đ (nộp phạt ngày 19/3/2019); bị tạm giữ từ ngày 17/02/2023 chuyển tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).

5. Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1982 tại Hải Dương.

Đăng ký hộ khẩu thường trú tại và trú tại số 20/120 C1, phường N3, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T8 và bà Nguyễn Thị M1; có vợ là Phạm Thị D1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/02/2023 chuyển tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Khắc Mầu (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 17/02/2023, Nguyễn Bá H đi ra khu vực nhà hàng 559 thành phố Hải Dương tìm mua ma túy tổng hợp về sử dụng. Tại đây H mua được của một người đàn ông tên H2 (không rõ họ, tuổi, địa chỉ cụ thể) 03 gói ma túy với số tiền 1.500.000đ sau đó mang về nhà cất giấu.

Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 17/02/2023, Nguyễn Văn T đang ở nhà tại địa chỉ số 91 N, phường T, thành phố Hải Dương thì có Nguyễn Trung H2 đến chơi. Tại đây, H2 đưa cho T số tiền 300.000đ bảo T mua ma túy về cả hai cùng sử dụng. T đồng ý và gọi điện cho Nguyễn Bá H bảo H đến để đi mua ma túy về cả ba cùng sử dụng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H cất giấu 03 gói ma túy nêu trên vào túi áo khoác và đến nhà T. Khi H đến, T đưa cho H số tiền 300.000đ để mua ma tuý. H đi ra ngoài lấy trong túi áo khoác đang mặc 01 gói ma túy mang theo trước đó rồi quay lại đưa cho T. T mở ngăn tủ kệ ti vi ở phòng khách lấy ra 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý ra để ở bàn uống nước. H cầm ma tuý đổ vào coóng rồi H, T, H2 cùng nhau sử dụng ma tuý. Sau khi sử dụng xong, T cất bộ dụng cụ vào ngăn tủ kệ ti vi rồi ngồi chơi với H2, còn H ra về.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H quay lại nhà T thì có Nguyễn Hoàng M đến chơi. M nói với H: “Em có 200.000đ, anh mua hộ em dùng cho tỉnh rượu”. H hiểu ý M nhờ đi mua ma túy về cùng sử dụng nên H trả lời: “Ừ. Để anh đi xem, nếu có thì anh hộ”. Sau đó, M đưa cho H 200.000đ. H đi ra ngoài tiếp tục lấy 01 gói ma túy mang theo trong người rồi quay lại đưa cho M. Lúc này, T tiếp tục lấy bộ dụng cụ trong tủ kệ tivi ra để lên bàn uống nước; M cầm ma túy cho vào coóng sử dụng rồi T, H2, H, M cùng nhau sử dụng. Khi sử dụng ma túy xong T lại cất bộ dụng cụ vào ngăn tủ kệ ti vi.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi T, H2, M, H đang ở phòng trọ của T thì có Ngô Huy H1 đến chơi. Ngồi chơi được khoảng 10 phút, H1 nói với H: “Em say quá. Anh lấy hộ em 300.000đ đá về chơi” thì H nói: “Giờ khó lắm” nên H1 lại nói: “Em say quá, anh lấy giúp em, em còn có 200.000đ” và bảo H đọc số tài khoản của H để H1 chuyển khoản thêm số tiền 100.000đ. Sau khi nhận chuyển khoản xong, H cầm số tiền 200.000đ H1 đưa rồi đi ra ngoài tiếp tục lấy 01 gói ma túy mang theo trong người quay lại đưa cho H1. Sau đó, H ra về còn T lấy bộ dụng cụ từ trong ngăn tủ kệ ti vi ra để lên bàn uống nước, H1 cầm ma túy rồi đổ gói ma tuý đá vào trong coóng để T, H2, H1, M cùng nhau sử dụng ma tuý đá. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi T, H2, H1, M vừa sử dụng ma tuý xong thì bị tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Dương kết hợp Công an phường T, thành phố Hải Dương trong khi làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Quá trình bắt quả tang có sự chứng kiến của ông Nguyễn Khắc Mầu.

Tại biên bản xét nghiệm nước tiểu các ngày 17,18/02/2023 đối với Nguyễn Văn T, Nguyễn Trung H2, Nguyễn Hoàng M, Ngô Huy H1 và Nguyễn Bá H xác định: Tất cả đều dương tính với chất ma túy, Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 165/KL-KTHS ngày 20/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong coóng thủy tinh, được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Hoàn lại đối tượng giám định gồm 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Đối tượng giám định được hoàn lại trong niêm phong số 165/KL-KTHS.

Tại Kết luận giám định số 51/KL-KTHS ngày 21/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng có số seri RA 16142497 và XZ 21791788 (ký hiệu A1, A2) là tiền thật.

Về vật chứng:

- Đối với 01 coóng thủy tinh hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 165/KL-KTHS, 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đ có số seri RA 16142497 và XZ 21791788 hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 51/KL-KTHS, 01 chai nhựa loại 350ml, 01 ống hút nhựa, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 điện thoại Nokia màu đen lắp sim số 0915018830, 01 điện thoại Iphone 6s màu ghi lắp sim số 0795282975, 01 điện thoại Poco màu xanh lắp sim số 0867377429, 01 điện thoại Samsung màu đen lắp sim số 0947927129, 01 điện thoại Iphone7 màu đen lắp sim số 0975483426, 01 xe mô tô Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 34B3 - 752.06 đăng ký mang tên Nguyễn Bá H đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương chờ xử lý theo quy định.

- Đối với số tiền 6.653.350đ trong tài khoản số 2301205233451 của Ngô Huy H1 mở tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Dương; số tiền 9.005đ trong tài khoản số 250984065 của Nguyễn Bá H mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng; quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành phong tỏa tài khoản.

- Đối với số tiền bán ma túy H đã tiêu sài hết nên không thu giữ được. Tại Cáo trạng số 164/CT-VKSTPHD ngày 10/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự (viết tắt: BLHS); bị cáo Ngô Huy H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 BLHS; các bị cáo Nguyễn Trung H2, Nguyễn Hoàng M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; bị cáo Nguyễn Bá H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 BLHS và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa, các bị cáo T, H1, M, H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và công nhận nội dung, tội danh, điều luật như Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, các bị cáo T, H2 thay đổi lời khai xác định số tiền 300.000đ H2 đưa cho T là tiền cho T vay, không phải để mua ma túy về cùng sử dụng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đều nhất trí với các kết luận giám định.

Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố Nguyễn Văn T, Ngô Huy H1, Nguyễn Trung H2, Nguyễn Hoàng M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Nguyễn Bá H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Văn T.

Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS đối với Ngô Huy H1.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Trung H2.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Hoàng M.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS đối với Nguyễn Bá H.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2023.

Xử phạt bị cáo Ngô Huy H1 từ 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù đến 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H2 từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá H từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội từ 10 (mười) năm đến 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 22/02/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu của Nguyễn Bá H số tiền 600.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 coóng thủy tinh hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 165/KL-KTHS; 01 chai nhựa loại 350ml; 01 ống hút nhựa; 01 bật lửa gas màu đỏ; các sim số 0915018830, 0975483426.

- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại Iphone7+ màu đen.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đ có số seri RA 16142497 và XZ 21791788 hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 51/KL-KTHS.

- Hủy bỏ Lệnh Phong tỏa tài khoản số 01/LPT-CQĐT ngày 10/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đối với số tiền 6.653.350đ trong tài khoản số 2301205233451 của Ngô Huy H1 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Dương.

- Hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 06/LPT-CQĐT ngày 03/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đối với số tiền 9.005đ trong tài khoản số 250984065 của Nguyễn Bá H mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng. Yêu cầu Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng thực hiện việc đóng tài khoản nêu trên. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền còn lại trong tài khoản tại thời điểm xét xử ngày 27/11/2023 là 9.005đ và toàn bộ số tiền biến động tăng giảm có trong tài khoản theo quy định của ngân hàng tại thời điểm thi hành án.

- Trả lại 01 xe mô tô kiểu dáng Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 34B3-752.06 đăng ký mang tên Nguyễn Bá H cho Nguyễn Bá H, 01 điện thoại Iphone 6s màu ghi lắp sim số 0795282975 cho Nguyễn Trung H2, 01 điện thoại Poco màu xanh lắp sim số 0867377429 cho Nguyễn Hoàng M, 01 điện thoại Samsung màu đen lắp sim số 0947927129 cho Ngô Huy H1.

Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của các bị cáo: Lời nhận tội của các bị cáo T, H, H1, M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, H2, T thay đổi lời khai phủ nhận những lời khai trước đây về việc H2 đưa cho T 300.000đ là tiền vay nhưng không có căn cứ chứng minh những lời khai tại quá trình điều tra không khách quan hay bị tác động. Xét thấy, trong toàn bộ các Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, Biên bản hỏi cung bị can đối với bị cáo H2, T, H và Biên bản bắt người phạm tội quả tang của các bị cáo thống nhất về việc H2 đưa số tiền 300.000đ cho T mục đích mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Đồng thời, các bị cáo cũng thừa nhận không bị ép cung, dùng nhục hình. Do đó, việc thay đổi lời khai của bị cáo H2, T không có căn cứ chấp nhận. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến khoảng 21 giờ ngày 17/02/2023, tại nhà ở của Nguyễn Văn T ở số 91 N, phường T, thành phố Hải Dương; T đã dùng chỗ ở và chuẩn bị dụng cụ; Nguyễn Trung H2, Nguyễn Hoàng M, Ngô Huy H1 là những người bỏ tiền mua ma túy loại Methamphetamine để sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, Nguyễn Bá H còn bán 01 gói ma túy Methamphetamine cho Ngô Huy H1 với số tiền 300.000đ. Khi T, H2, M, H1 đang cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết hành vi cung cấp địa điểm, dụng cụ, ma túy để cùng người khác sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo T, H, H1, H2, M đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 BLHS.

Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo tổ chức cho nhiều người cùng sử dụng trái phép chất ma túy đã vi phạm tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS. Riêng bị cáo T có 03 lần và bị cáo H có 02 lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã vi phạm tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 BLHS; bị cáo H1 bị xét xử tại Bản án số 106/2019/HSST ngày 31/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương được xác định thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý đã vi phạm tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 BLHS.

Bị cáo H còn có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Methamphetamine cho Ngô Huy H1. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo H đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý đối với bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo H2, H, H1 có nhân thân xấu. Bị cáo H2 từng bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo H từng bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Đặc biệt, bị cáo H1 đã nhiều lần bị xét xử về tội xâm phạm sở hữu và tội phạm về ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân. Xét thấy tại phiên tòa, bị cáo H2, T khai báo quanh co, chưa trung thực nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho H2, T trong lần thực hiện hành vi phạm tội thứ nhất. Tuy nhiên, T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ở hai lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy sau và các bị cáo H, H1, M đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo T, H1, M có bố mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Trong 03 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, T, H2, H đồng phạm ở lần thứ nhất; T, H, M đồng phạm ở lần thứ hai; T, H1 đồng phạm ở lần thứ ba. Trong đó, T là người đề xuất, cung cấp địa điểm, dụng cụ tham gia cả ba lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên giữ vai trò đầu. Bị cáo H là người cung cấp ma túy, tham gia trong hai lần thực hiện tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có vai trò thứ hai. Các bị cáo là H1, H2, M lần lượt giữ vai trò sau.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và các quy định của Bộ luật Hình sự, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

- Tịch thu của Nguyễn Bá H số tiền 600.000đ, 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đ có số seri RA 16142497 và XZ 21791788 hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 51/KL-KTHS là tiền do phạm tội mà có nộp ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 coóng thủy tinh hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 165/KL-KTHS; 01 chai nhựa loại 350ml; 01 ống hút nhựa; 01 bật lửa gas màu đỏ; các sim số 0915018830, 0975483426 là công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại Iphone 7+ màu đen là các công cụ, phương tiện phạm tội.

- Hủy bỏ Lệnh Phong tỏa tài khoản số 01/LPT-CQĐT ngày 10/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đối với số tiền 6.653.350đ trong tài khoản số 2301205233451 của Ngô Huy H1 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Dương do không liên quan đến tội phạm.

- Hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 06/LPT-CQĐT ngày 03/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đối với số tiền 9.005đ trong tài khoản số 250984065 của Nguyễn Bá H mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng. Yêu cầu Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng thực hiện việc đóng tài khoản nêu trên. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền còn lại trong tài khoản tại thời điểm xét xử ngày 27/11/2023 là 9.005đ và toàn bộ số tiền biến động tăng giảm có trong tài khoản theo quy định của ngân hàng tại thời điểm thi hành án.

- Trả lại 01 xe mô tô kiểu dáng Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 34B3-752.06 đăng ký mang tên Nguyễn Bá H cho Nguyễn Bá H, 01 điện thoại Iphone 6s màu ghi lắp sim số 0795282975 cho Nguyễn Trung H2, 01 điện thoại Poco màu xanh lắp sim số 0867377429 cho Nguyễn Hoàng M, 01 điện thoại Samsung màu đen lắp sim số 0947927129 cho Ngô Huy H1 do không liên quan đến tội phạm.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về tố tụng và các vấn đề khác: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

Đối với Lê Xuân Bình là người nhận số tiền 500.000đ thông qua hình thức chuyển khoản từ tài khoản số 250984065 của Nguyễn Bá H mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng, trong đó có số tiền 100.000đ do H phạm tội mà có qua điều tra xác minh Bình vắng mặt tại địa phương nên không có căn cứ xử lý.

Đối với nam thanh niên tên H2 bán ma túy cho H, kết quả điều tra không làm rõ được họ, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Văn T.

Căn cứ điểm b, h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS đối với Ngô Huy H1.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Trung H2.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Hoàng M.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, điểm a khoản 1 Điều 55, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Bá H.

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 130, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Ngô Huy H1, Nguyễn Trung H2, Nguyễn Hoàng M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Bá H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2023.

Xử phạt bị cáo Ngô Huy H1 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H2 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng M 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/02/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá H 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 22/02/2023.

3. Về vật chứng:

- Tịch thu của Nguyễn Bá H số tiền 600.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu 02 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đ có số seri RA 16142497 và XZ 21791788 hoàn lại sau giám định niêm phong trong 01 phong bì số 51/KL-KTHS nộp ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 coóng thủy tinh, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định niêm phong trong 01 phong bì số 165/KL-KTHS; 01 chai nhựa loại 350ml; 01 ống hút nhựa; 01 bật lửa gas màu đỏ; các sim số 0915018830, 0975483426.

- Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại Iphone 7+ màu đen.

- Hủy bỏ Lệnh Phong tỏa tài khoản số 01/LPT-CQĐT ngày 10/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đối với số tiền 6.653.350đ trong tài khoản số 2301205233451 của Ngô Huy H1 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Dương.

- Hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 06/LPT-CQĐT ngày 03/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đối với số tiền 9.005đ trong tài khoản số 250984065 của Nguyễn Bá H mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng. Yêu cầu Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng thực hiện việc đóng tài khoản nêu trên. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền còn lại trong tài khoản tại thời điểm xét xử ngày 27/11/2023 là 9.005đ và toàn bộ số tiền biến động tăng giảm có trong tài khoản theo quy định của ngân hàng tại thời điểm thi hành án.

- Trả lại 01 xe mô tô kiểu dáng Sirius màu đỏ đen đeo biển kiểm soát 34B3-752.06 (số khung: RLCUE3240JY128926, số máy: E3X9E364332) đăng ký mang tên Nguyễn Bá H cho Nguyễn Bá H, 01 điện thoại Iphone 6s màu ghi lắp sim số 0795282975 cho Nguyễn Trung H2, 01 điện thoại Poco màu xanh lắp sim số 0867377429 cho Nguyễn Hoàng M, 01 điện thoại Samsung màu đen lắp sim số 0947927129 cho Ngô Huy H1.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 18/10/2023).

4. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá H, Ngô Huy H1, Nguyễn Trung H2, Nguyễn Hoàng M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ