vanban.org

Bản án 182/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cảnh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy trong phong bì thư đã được niêm phong dán kín. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ng Cảnh Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cảnh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2023/HS-ST
Ngày: 21 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Anh Tuấn

2. Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Mỵ Nương - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại Hội trường UBND phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 177/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Cảnh Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 9 năm 1989 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKNKTT: xóm S, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ở: khối B, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Cảnh C và bà: Nguyễn Thị S (Chết); Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1986; Con: Chưa có

Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 18/11/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/09/2020, thi hành xong số tiền 3.000.000 đồng án phí DSST, 200.000 đồng án phí HSST ngày 24/02/2023 và thi hành xong 200.000 đồng án phí HSPT ngày 15/05/2020; chưa thi hành xong việc bồi thường dân sự số tiền 60.000.000 đồng;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Quang C1, sinh năm 1990; Trú tại xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 20/02/2023, Nguyễn Quang C1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, gắn sim số 0986467345 gọi đến số điện thoại 0978627689 của Nguyễn Cảnh Q để nhờ sửa nội thất xe ô tô. Quá trình nói chuyện, Nguyễn Cảnh Q yêu cầu C1 trả nợ số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nên C1 sử dụng số tài khoản 0966755877 Ngân hàng M mang tên Nguyễn Quang C1 chuyển số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) vào tài khoản 60978627689 Ngân hàng T2 mang tên Nguyễn Cảnh Q để trả nợ cho Q. Sau khi C1 chuyển tiền trả nợ, Nguyễn Cảnh Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream mang BKS 37H5-1825 (xe Q mượn của Nguyễn Văn P) để đi rút tiền. Sau đó, Nguyễn Cảnh Q sử dụng điện thoại Iphone 6, màu đồng gắn sim số 0978627689 gọi đến số điện thoại 0369544555 của Đoàn Xuân Q1 (sinh năm 1969, trú tại khối G, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An) nhờ mua ma túy nhưng Đoàn Xuân Q1 nói không biết. Lúc này, Nguyễn Cảnh Q điều khiển xe mô tô Honda Dream, BKS 37H5-1825 đi đến cổng Đại học V, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An nhờ người đàn ông làm nghề xe ôm (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền ma túy Heroine thì người này đồng ý , nói Nguyễn Cảnh Q đến chờ phía sau cổng trường THPT L, đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An để lấy ma túy. Đến 15 giờ ngày 20/02/2023, người đàn ông làm nghề xe ôm đi đến cổng sau trường THPT L đưa cho Nguyễn Cảnh Q 01 (Một) gói bên ngoài bọc bằng giấy lịch, bên trong chứa chất bột màu trắng. Mua được ma túy, Nguyễn Cảnh Q gọi điện thoại hỏi Nguyễn Quang C1 “đang ở đâu” để đến sửa xe thì Nguyễn Quang C1 nói: “đang ngồi trong xe ô tô ở bãi đất trống thuộc dự án khu đô thị H, xóm B, xã N, thành phố V”. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 20/02/2023, khi Nguyễn Cảnh Q đi đến bãi đất trống thuộc dự án khu đô thị H, xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An lên xe ô tô gặp Nguyễn Quang C1 để xem nội thất xe thì thấy tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra nên Nguyễn Cảnh Q xuống xe, ném 01 (Một) gói bên ngoài bọc bằng giấy lịch, bên trong chứa chất bột màu trắng (Nghi là ma túy heroine) xuống đất, cách vị trí xe ô tô khoảng 1m. Tổ công tác Công an thành phố V thu giữ 01 (Một) gói (Nghi là ma túy Heroine) rồi niêm phong vật chứng và dẫn giải Nguyễn Cảnh Q về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 223/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 26/02/2023 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Cảnh Q gửi tới giám định là ma túy (H) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Cảnh Q có khối lượng là 0,545 gam (Không phẩy năm trăm bốn mươi lăm gam)”.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Cảnh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

- Việc thu giữ và xử lý vật chứng:

+ Số ma túy thu giữ của Nguyễn Cảnh Q. Sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,455 gam được niêm phong lại bằng một phong bì thư dán kín, đúng quy định;

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động Iphone X màu đen, gắn sim số 0986467345 thu giữ của Nguyễn Quang C1 đã qua sử dụng;

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, gắn sim số 0978627689 thu giữ của Nguyễn Cảnh Q đã qua sử dụng;

+ 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS 37H5-1825, đăng ký chủ sở hữu Trần Doãn N.

Bản Cáo Trạng số 204/CT-VKS-TPV ngày 01tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Cảnh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố luận tội tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Cảnh Q từ 13(Mười ba) đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy ma túy đã được niêm phong dán kín.

Trả lại cho Nguyễn Cảnh Q 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 và trả lại cho Nguyễn Quang C1 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung:

. Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Cảnh Q hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 16 giờ 00 phút, ngày 20/02/2023, tại khu vực bãi đất trống thuộc dự án khu đô thị H, xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Cảnh Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine), có khối lượng 0,545 gam để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại do ma túy mang lại cho con người và xã hội nhưng không chịu rèn luyện tu dưỡng, vì để thỏa mãn cơn nghiện mà thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết mới đủ răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bà nội là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính là phạt tù còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Trong vụ án này, đối với anh Nguyễn Quang C1: quá trình điều tra ban đầu, Nguyễn Cảnh Q khai C1 chuyển 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để mua ma túy về cùng sử dụng nhưng Công khai chuyển 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để trả nợ Q. Ngày 09/05/2023, cơ quan CSĐT tiến hành đối chất giữa Nguyễn Cảnh Q và Nguyễn Quang C1, kết quả Nguyễn Cảnh Q thừa nhận lời khai Nguyễn Quang C1: “chuyển tiền để trả nợ Q” là đúng. Khi Nguyễn Quang C1 gặp bị cáo thì C1 không biết đến việc bị cáo mua ma túy và cất giấu ma túy trong người. Do đó, Nguyễn Quang C1 không phạm tội.

Đối với anh Đoàn Xuân Q1: Đoàn Xuân Q1 không thừa nhận việc bán ma túy cho Q.Quá trình điều tra ban đầu, Nguyễn Cảnh Q khai mua 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) ma túy của Đoàn Xuân Q1. Ngày 11/05/2023, Nguyễn Cảnh Q khai lại mua ma túy của người đàn ông làm nghề xe ôm. Do đó, Đoàn Xuân Q1 không phạm tội.

Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm bán ma túy cho Nguyễn Cảnh Q do Q không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể nên cơ quan CSĐT Công an thành phố V tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lí sau.

Đối với anh Nguyễn Văn P là người cho Nguyễn Cảnh Q mượn xe Honda Dream BKS 37H5-1825 để đi công việc, không biết Q sử dụng xe mô tô đi mua ma túy, do đó anh P không phạm tội.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 0,545 gam ma túy (Heroin) thu giữ của Nguyễn Cảnh Q, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,455 gam. Ma túy là vật cấm lưu hành, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 thu giữ của Nguyễn Cảnh Q đã qua sử dụng và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen thu giữ của Nguyễn Quang C1 đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định được không liên quan đến hành vi phạm tội cần tuyên trả lại cho Nguyễn Cảnh Q và Nguyễn Quang C1.

- Đối với 01(Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS 37H5-1825, đăng ký chủ sở hữu Trần Doãn N. Quá trình điều tra xác định anh Trần Doãn N bán chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn P, (sinh năm 1986, trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An), anh P cho Nguyễn Cảnh Q mượn xe đi công việc nên cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra Quyết định xử lý vật chứng số 77 ngày 18/05/2023, trả chiếc xe mô tô cho Nguyễn Văn P là đúng quy định pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cảnh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Cảnh Q 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 20/02/2023.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy ma túy trong phong bì thư đã được niêm phong dán kín.

T1 trả cho Nguyễn Cảnh Q 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 đã qua sử dụng và tuyên trả cho Nguyễn Quang Q 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen đã qua sử dụng.

Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK 2023/194 ngày 19/6/2023.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Cảnh Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ