vanban.org

Bản án 182/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Minh Th.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Minh Th. Giao cháu Phạm Gia Phú, sinh ngày 21/8/2017 cho chị Nguyễn Minh Th tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Phạm Công Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Gia Phú mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi cháu Phú đủ 18 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Minh Th -Phạm Công Đợi"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Minh Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20-7-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Liêu Chí Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Kết.

Ông Trần Công Đoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Minh Th, sinh năm 1991; cư trú tại: Số 51/15 đường s, phường H, quận Th, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Công Đ, sinh năm 1991; cư trú tại: Ấp T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Chị Nguyễn Minh Th trình bày: Chị và anh Phạm Công Đ được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Đức vào ngày 08/12/2014. Vợ chồng có thời gian ngắn sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn, do anh Đ không chung thủy dẫn đến sống ly thân hơn 05 năm nay. Hiện tại chị không còn thương anh Đ nên yêu cầu được ly hôn. Thời gian chung sống vợ chồng có một con chung tên Phạm Gia Phú, sinh ngày 21/8/2017. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Phú đủ 18 tuổi. Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung.

- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Phạm Công Đ, nhưng anh Đ không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của chị Th, không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Phạm Công Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Chị Th xác định sau thời gian ngắn chung sống hạnh phúc thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh Đ không chung thủy, dẫn đến sống ly thân hơn năm năm nay. Anh Đ không có ý kiến phản đối, anh cũng không mong muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị Th, thể hiện qua việc nhiều lần Tòa án triệu tập hòa giải và xét xử, anh đều không tham gia. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th, cho chị và anh Đ ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị Th yêu cầu được nuôi con chung và buộc anh Đ cấp dưỡng mỗi tháng hai triệu đồng, anh Đ không phản đối. Xét thấy cháu Phú mới hơn 4 tuổi, cần có sự chăm sóc của mẹ, hơn nữa từ sau khi ly thân đến nay do chị Th nuôi dưỡng vẫn đảm bảo phát triển tốt, nên tiếp tục giao con chung cho chị Th nuôi dưỡng là phù hợp. Việc chị Th nuôi dưỡng con sẽ gặp khó khăn vì hiện tại chị không có nghề nghiệp ổn định, nên anh Đ có nghĩa vụ san sẻ với chị trong việc nuôi dưỡng con là cần thiết. Về mức cấp dưỡng, như nhận định trên, anh Đ cũng không phản đối nên chấp nhận số tiền chị Th yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th xác định không có, anh Đ không phản đối, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Do yêu cầu được chấp nhận nên chị Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Do anh Đ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên anh phải chịu án phí cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Minh Th. Cho chị Nguyễn Minh Th được ly hôn với anh Phạm Công Đ.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Minh Th. Giao cháu Phạm Gia Phú, sinh ngày 21/8/2017 cho chị Nguyễn Minh Th tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Phạm Công Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Gia Phú mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi cháu Phú đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Anh Phạm Công Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Th cho đến khi thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, hàng tháng anh Đ phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí:

- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Minh Th phải chịu 300.000 đồng. Chị Th đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0012586 ngày 14/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị Th đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Công Đ phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Th có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Đ có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ