vanban.org

Bản án 182/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 19/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Huy B phạm tội : Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Đỗ Huy B 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Áp dụng Điều 99 bộ luật Tố tụng Hình sự và C¨n cø Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngµy 30/12/2016 vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Huy B phạm tội : Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? luật Tố tụng Hình sự và C¨n cø Nghị; Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
----------------
Bản án số: 182/2017/HSST
Ngày: 19/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lâm Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Đức Minh

Ông Nguyễn Văn Khanh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thu Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Lê Kim Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 19/7/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quËn Long Biªn – TP. Hµ Néi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 178/2017/HSST ngày 28/6/2017 đối với bị cáo:

ĐỖ HUY B - sinh năm: 1953; HKTT: Thôn L – xã D – huyện Đ – Hà Nội; trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không; con ông: Đỗ Văn K, con bà: Lại Thị L (Đều đã chết);Vợ: Hoàng Thị H; Có 01 con sinh năm 1979; TATS: Theo danh chỉ bản số 322 ngày 24/5/2017 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp xác định bị cáo có 02 tiền án và 08 tiền sự.

08 Tiền sự : từ năm 1970 đến 2013 về các hành vi Trộm cắp tài sản và Đánh bạc.

02 Tiền án:

- Bản án số 72/HSST ngày 15/9/1972 TAND quận Hoàn Kiếm – Hà Nội xử 18 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản.

- Bản án số 48/HSST ngày 23/6/1993 TAND huyện Đông Anh – Hà Nội xử 8 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

Người bị hại:

Anh Vi Công T – Sinh năm: 1992.

HKTT: Khu X – Xã Đ– Huyện T– Tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)

Những người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Thành L - Phó bí thư đoàn thanh niên phường T – Long Biên – Hà Nội.

2. ChÞ Lª ¸nh H – BÝ th ®oµn thanh niªn ph êng T – Long Biên – Hà Nội.

3. Anh Nguyễn Ngọc D – Cán bộ tự quản phường T – Long Biên – Hà Nội.

(Đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14h ngày 06/4/2017, Đỗ Huy B đến đình Thanh Am, tæ 24 phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hµ Néi để xem hội làng. B đến khu vực trò chơi đập niêu đất và t¹i ®©y B ®· ph¸t hiện anh Vi Công T đang bế con trai trên tay đøng xem trò chơi đập niêu. Quan s¸t thÊy anh Thèng có chiếc điện thoại di động trong túi quần phía trước bên trái, B tiÕn s¸t lại gần anh Thống. Lợi dụng lúc đông người chen lấn nhau xem trß ch¬i, B đã dùng tay trái móc chiếc điện thoại di động của anh Thống, sau ®ã B cất chiếc điện thoại vừa trộm cắp được vào túi áo khoác bªn tr¸i ®ang mÆc. Do tõ khi B đÕn lÔ héi, anh Nguyễn Thành L – Phó bí thư đoàn thanh niên phường Thượng Thanh đã phát hiện biÓu hiÖn nghi vÊn cña B×nh nªn anh ®· b¸o chÞ Lª ¸nh H – BÝ th ®oµn thanh niªn ph êng Th îng Thanh, phèi hîp cïng anh Nguyễn Ngọc D – cán bộ tự quản phường Thượng Thanh theo dõi liên tục và bắt quả tang hành vi trộm cắp của đối tượng B . Sau khi xác định chiếc điện thoại đối tượng B vừa trộm cắp được là của anh T thì các anh L, D, T đã đưa đối tượng B cùng tang vật về trụ sở Công an phường Thượng Thanh để lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang.

Héi ®ång ®Þnh gi¸ tµi s¶n trong tè tông h×nh sù quËn Long Biªn kÕt luËn:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY GRAND PRIME màu trắng đã qua sử dụng trị giá 2.300.000 đồng

VÒ d©n sù :

Cơ quan CSĐT - Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử lý vật chứng , trao trả 01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG màu trắng, màn hình cảm ứng cho anh Vi Công T . Sau khi nhận lại tài sản anh T không yêu cầu đề nghị gì thêm về bồi thường dân sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Huy B không khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình cũng như tình tiết sự việc đã nêu trên. B khai chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG là do B nhặt được dưới sân đình Thanh Am thuộc phường Thượng Thanh, Long Biên, sau khi B cất giấu vào túi áo khoác thì bị bắt giữ.

Cáo trạng số: 181/KSĐT ngày 27/6/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Đỗ Huy B về tội: Trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 138 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo, người làm chứng tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của các bị cáo Đỗ Huy B đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 – Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điều 33 của BLHS

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo B mức án từ 06 đến 08 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Nói lời sau cùng Bị cáo cho rằng bị oan, không vi phạm pháp luật, bị cáo chỉ có hành vi nhặt được chiếc điện thoại thì bị bắt giữ. Đề nghị HĐXX xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của những người làm chứng: Anh Nguyễn Thành L và anh Nguyễn Ngọc D đều xác định có nhận được tin báo về đối tượng khả nghi, được Ban chấp hành chi đoàn phân công theo dõi, bám sát bị cáo và trực tiếp bắt giữ quả tang bị cáo dùng tay trái để trộm cắp chiếc điện thoại di động SAMSUNG GALAXY GRAND PRIME màu trắng của anh Vi Công T , khoảng cách quan sát từ 04m đến 05m, giữa những người làm chứng và bị cáo không có mối quan hệ thân thích và mâu thuẫn thù oán. Nội dung lời khai của những người làm chứng được đánh giá là khách quan, có tính logic xuyên suốt tới toàn bộ diễn biến vụ án phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.Việc bị cáo cho rằng nhặt được điện thoại di động dưới đất, bị oan, không vi phạm pháp luật là không có cơ sở xem xét. Vì vậy, HĐXX đủ cơ sở vững chắc kết luận: Khoảng 15h30 ngày 06/4/2017, tại sân đình Thanh Am, tổ 24 phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội, lợi dụng lễ hội đông người Đỗ Huy B đã có hành vi lén lút lấy cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY GRAND PRIME màu trắng trị giá 2.300.000 đồng của anh Vi Công T thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo Đỗ Huy B đã phạm vào tội: Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 138 - Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; làm mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn trong dịp lễ hội; Xét bị cáo có nhân thân xấu, có 08 Tiền sự : từ năm 1970 đến 2013 về các hành vi Trộm cắp tài sản và Đánh bạc. 02 Tiền án: Bản án số 72/HSST ngày 15/9/1972 TAND quận Hoàn Kiếm – Hà Nội xử 18 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Bản án số 48/HSST ngày 23/6/1993 TAND huyện Đông Anh – Hà Nội xử 8 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Các tiền án, tiền sự trên của bị cáo mặc dù đã được xóa song xét về hành vi, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm thấy cần phải áp dụng một hình phạt tù tương xứng trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của các bị cáo: Khi lượng hình xem xét bị cáo đã 64 tuổi, hiện bị bệnh hen xuyễn nặng, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn, việc phạm tội do cơ hội nên cũng giảm nhẹ phần nào khi quyết định hình phạt đối với bị cáo theo khoản 2 Điều 46 – Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, việc làm ổn định, bị bệnh nên HĐXX không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định của pháp luật.

Đại diện VKS đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, anh T không có yêu cầu gì khác về dân sự. Nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Bị cáo phải nộp án phí HSST và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Huy B phạm tội : Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; khoản 2 Điều 46; Điều 33 - Bộ luật hình sự

- Xử phạt: Đỗ Huy B 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 bộ luật Tố tụng Hình sự và C¨n cø Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngµy 30/12/2016 vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n.

Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm

3. Quyền kháng cáo:Áp dụng Điều 231, Điều 234 bộ luật Tố tụng Hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./.

Cỡ chữ