vanban.org

Bản án 181/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2025.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Hồng T số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "sản xuát, buôn bán hàng cấm - sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2026/HS-ST
Ngày 30 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Quang Hòa

2. Ông Trần Viết Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2026/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 803/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Hồng T; sinh ngày 03/9/1983, tại Tây Ninh; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Ấp M.P, xã Đ.T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và Phạm Thị Th; có chồng và 02 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012); tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 04/3/2019, Trưởng Công an huyện Đức Huệ, tỉnh Long An ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 19/QĐ-XPVPHC về hành vi “Vận chuyển hàng cấm” là thuốc lá điếu nhập lậu, hình thức phạt tiền: 5.000.000 đồng, chưa nộp phạt.

Nhân thân:

+ Ngày 31/5/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 2304/QĐ-XPVPHC về hành vi “Buôn bán hàng cấm” là thuốc lá điếu nhập lậu, hình thức phạt tiền: 65.000.000 đồng. Ngày 13/01/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số: 169/QĐ-HB về việc huỷ bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2304/QĐ-XPVPHC ngày 31/5/2019. Lý do để xem xét khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi vi phạm ngày 11/4/2019.

+ Ngày 28/01/2026, Trưởng Công an xã Vĩnh Lộc, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPVPHC về hành vi “Vận chuyển hàng cấm” là thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, hình thức phạt tiền 80.000.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 11/3/2026.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2025 đến nay. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 50 phút, ngày 30/4/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Chức vụ Công an huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Công an xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh tuần tra đến trước địa chỉ: đường T.H, Ấp E, xã V.L.A, huyện B.C, thì phát hiện Nguyễn Thị Hồng T đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead (không gắn biển số) vận chuyển 1.210 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (HERO, 555, SCOTT, Esse Change, Esse Lights, Esse Menthol, Esse Special Gold) nên tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính để điều tra, làm rõ.

Kết quả xác minh lý lịch của T thể hiện: Ngày 26/02/2019, T bị Công an huyện Đức Huệ, tỉnh Long An phát hiện có hành vi “Vận chuyển hàng cấm” là thuốc lá điếu nhập lậu, vật chứng thu giữ gồm: 90 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (555, Craven); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ-đen, số khung 607DY-040620, số máy F46E-0040664. Ngày 04/3/2019, Công an huyện Đức Huệ, tỉnh Long An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 19/QĐ-XPVPHC, phạt tiền 5.000.000 đồng đối với T. Đến ngày 11/4/2019, T bị Công an huyện Bình Chánh phát hiện có hành vi “Buôn bán hàng cấm” và bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 2304/QĐ-XPVPHC ngày 31/5/2019, phạt tiền 65.000.000 đồng. Tất cả các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên đã được tống đạt cho T theo quy định nhưng T chưa chấp hành đóng phạt đối với các Quyết định nêu trên.

Nhận thấy hành vi “Buôn bán hàng cấm” của T bị phát hiện vào ngày 11/4/2019 có dấu hiệu của tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên ngày 01/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Buôn bán hàng cấm”. Đến ngày 13/01/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 169/QĐ-HB về việc hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2304/QĐ-XPVPHC ngày 31/5/2019 và ra Quyết định chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm có dấu hiệu tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Hồng T.

Quá trình điều tra, T khai nhận: Vào ngày 11/4/2019, T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius không biển số đến tại khu vực giáp ranh biên giới tỉnh Long An với Campuchia mua 490 bao thuốc lá điếu nhập lậu loại Craven A của người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá tiền là 2.450.000 đồng, thanh toán bằng tiền mặt, rồi chở về khu vực chợ B.H thuộc quận B.T (cũ) để bán cho người khác kiếm lời, nhưng khi đi đến đoạn đường thuộc Ấp S, xã L.M.X, huyện B.C thì bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ vật chứng như đã nêu trên và bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 2304/QĐ-XPVPHC ngày 31/5/2019, phạt tiền 65.000.000 đồng.

Đến ngày 30/4/2024, T tiếp tục điều khiển xe mô tô Honda Lead (không biển số) để vận chuyển thuê 1.210 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (nhãn hiệu HERO, 555, SCOTT, Esse Change, Esse Lights, Esse Menthol, Esse Special Gold) của người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) đã được để sẵn trong cốp xe, vận chuyển từ khu vực cửa khẩu Th thuộc xã M.Q.T, huyện Đ.H, tỉnh Long An đến khu vực đường T.H thuộc khu công nghiệp V.L, Thành phố Hồ Chí Minh thì sẽ có người nhận. Khi T vận chuyển số thuốc lá trên đến trước địa chỉ số đường T.H, Ấp E, xã V.L A, huyện B.C thì bị Cơ quan Công an phát hiện, tạm giữ vật chứng như đã nêu trên. Lời khai của Nguyễn Thị Hồng T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại Công văn số 38/CV-2019 HHTLVN ngày 19/4/2019, Hiệp hội thuốc lá Việt Nam xác định: thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven A tạm giữ của Nguyễn Thị Hồng T vào ngày 11/4/2019 là thuốc lá điếu nhập lậu.

Tại Công văn số 90/CV-2024 HHTLVN ngày 09/5/2024, Hiệp hội thuốc lá Việt Nam xác định: thuốc lá điếu có các nhãn hiệu HERO, 555, SCOTT, Esse Change, Esse Lights, Esse Menthol, Esse Special Gold tạm giữ của Nguyễn Thị Hồng T vào ngày 30/4/2024 là thuốc lá điếu nhập lậu.

* Việc tạm giữ, xử lý vật chứng:

+ Vật chứng tạm giữ ngày 26/02/2019 gồm: 90 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (555, Craven); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ-đen, số khung 607DY-040620, số máy F46E-0040664 đã được Công an huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPVPHC ngày 04/3/2019.

+ Vật chứng tạm giữ ngày 11/4/2019 gồm: 490 bao thuốc lá nhãn hiệu Craven A; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius (không biển số, không rõ số khung, số máy). Kết luận giám định số 3499/KLGĐ-X(Đ6) ngày 23/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: bị cắt mất số, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius (không biển số). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã xuất kho theo Lệnh xuất kho vật chứng số 11 ngày 13/12/2019 và Lệnh xuất kho vật chứng số 444 ngày 05/4/2021 để xử lý tịch thu bán đấu giá sung quỹ Nhà nước (đối với xe mô tô), tiêu hủy (đối với thuốc lá).

+ Vật chứng tạm giữ ngày 30/4/2024 gồm: 1.210 bao thuốc lá các loại (nhãn hiệu HERO, 555, SCOTT, Esse Change, Esse Lights, Esse Menthol, Esse Special Gold) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead (không biển số, không rõ số khung, số máy). Kết luận giám định số 2544/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: mài mất số, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy của xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead (không biển số). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển các vật chứng trên đến Công an xã Vĩnh Lộc, Thành phố Hồ Chí Minh để xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPVPHC ngày 28/01/2026.

Tại bản Cáo trạng số 311/CT-VKS-HS ngày 03/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng T về tội “Buôn bán hàng cấm”, theo điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng T về tội “Buôn bán hàng cấm”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng, đã được xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Ngày 11/4/2019, tại khu vực Ấp S, xã L.M.X, huyện B.C (nay là xã B.L), Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thị Hồng T có hành vi tàng trữ 490 bao thuốc lá hiệu Craven A nhằm mục đích bán trái phép. Qua điều tra xác định, toàn bộ số thuốc lá điếu nêu trên không phải là hàng hóa được nhập khẩu vào thị trường Việt Nam theo quy định pháp luật, đây là hàng nhập lậu do T mua ở khu vực biên giới giữa tỉnh Long An (nay là Tây Ninh) và Campuchia để bán nhằm thu lợi bất chính.

Xét về nhân thân, ngày 26/02/2019, bị cáo T đã thực hiện hành vi “Vận chuyển hàng cấm” (là thuốc lá lậu). Ngày 04/3/2019, Trưởng Công an huyện Đức Huệ, tỉnh Long An đã ra quyết định số 19/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo bằng hình thức phạt tiền 5.000.000 đồng. Đến thời điểm thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu lậu vào ngày 11/4/2019, bị cáo chưa nộp phạt đối với số tiền phạt theo Quyết định số 19/QĐ-XPVPHC ngày 04/3/2019.

Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Buôn bán hàng cấm” như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

b) Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;.

...

e) Sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

…

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

…”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Hồng T đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Ngày 30/4/2024, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu nhưng số lượng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 28/01/2026, Trưởng Công an xã Vĩnh Lộc, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Điều này thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo là không tốt. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Xét trong trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung, xét hành vi phạm tội của bị cáo là nhằm thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 490 bao thuốc lá hiệu Craven A và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius (không gắn biển số, không rõ số khung, số máy do bị cắt mất số nguyên thủy) tạm giữ của bị cáo, đã được xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức tiêu hủy (đối với thuốc lá) và tịch thu bán đấu giá sung quỹ Nhà nước (đối với xe) nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người đàn ông bán thuốc lá lậu cho bị cáo, do không xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2304/QĐ-XPVPHC ngày 31/5/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo về hành vi buôn bán hàng cấm thực hiện trong vụ án này, đã bị hủy bỏ theo Quyết định số 169/QĐ-HB ngày 13/01/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai chưa nộp phạt theo Quyết định số 2304/QĐ-XPVPHC nên không xem các vấn đề liên quan.

Đối với hành vi vận chuyển thuốc lá lậu do T thực hiện ngày 30/4/2024, ngày 28/01/2026, Trưởng Công an xã Vĩnh Lộc, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPVPHC bằng hình thức phạt tiền 80.000.000 đồng đối với bị cáo, đã nộp phạt vào ngày 11/3/2026 là phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm e khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2025.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Hồng T số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2021 và 2025); Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ