- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sỳ Đức H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sỳ Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 181/2017/HSST Ngày: 25-12-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hiền;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Nô;
2. Bà Trần Thị Mộng Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tinh Bỉ
̀nh Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung, Kiểm sát viên.
Vào ngày 25 tháng 12 năm 2017; tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 162/2017/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2017 theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 188/2017/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:
Sỳ Đức H, sinh năm 1983 tại Đồng Nai; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 4, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 03/12; nghề nghiệp: Không; con ông Sỳ Quang S, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Lý Như M, sinh năm 1955; bị cáo có 01 người em sinh năm 1985; có vợ tên Su Quân Lệ N, sinh năm 1990; có 01 người con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 06/5/2009, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Sỳ Đức H về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 11/7/2011 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với Sỳ Đức H về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/7/2011, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định chỉ điều tra vụ án đối với bị can Sỳ Đức H.
Bi ̣ cáo bi ̣ tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2017 cho đến nay; có mặt.
- Người bị hại: Ông Đỗ Trọng N, sinh năm 1988; nơi thường trú: Thôn A, xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; tạm trú: Nhà trọ Hồng M, Tổ 6, Khu phố K, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1983; nơi thường trú: Thôn A, xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Thanh Sang E, sinh năm 1978, nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Thị H; khu phố L, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
2. Ông Thạch Minh K, sinh năm 1986; nơi thường trú: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Thị H; khu phố L, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ Á N:
Qua cá c tà i liê ̣u có trong hồ sơ vụ á n và quá trinh xé t hỏi, tranh luận tại phiên
̀ toà , nội dung vụ á n được tó m tắ t như sau:
Sỳ Đức H, Thạch Minh K và đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) có mối quan hệ là bạn bè với nhau.
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 22/8/2017, H đi bộ từ nhà trọ của mình ở khu phố L, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương đến phòng số 09 khu nhà trọ Nguyễn Thị H do K thuê để ở, thuộc khu phố L, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương mục đích nhờ K tìm việc làm giúp cho H. K nói không thể tìm việc làm giúp H được nên H ở phòng K chơi. Đến khoảng 10 giờ 55 phút cùng ngày, T đi bộ đến phòng trọ của K để chơi. Tại đây H, K và T nói chuyện với nhau một lúc thì K lên trên gác để ngủ. T nói với H là “Anh kiếm tiền không?” thì H hỏi “kiếm tiền gì?”. Sau đó, T đi ra khỏi phòng trọ của K làm gì H không rõ, còn H vẫn ngồi trong phòng của K. Khoảng 03 phút thì T quay vào vị trí H đang ngồi và rủ H cùng thực hiện hành vi chiếm đoạt xe mô tô đang dựng đối diện phòng trọ của K (Phòng số 11), đồng thời dùng tay chỉ về hướng chiếc xe mô tô biển số 22B1 – 317.06 của ông Đỗ Trọng N đang để ở phía trước đối diện phòng số 09 cho H thấy và T bảo H mang xe 22B1 – 317.06 ra phía trước nhà trọ cho T thì H đồng ý. Sau đó, T đi ra phía trước nhà trọ, lúc này H đi lại vị trí để xe 22B1 – 317.06 dùng tay trái cầm vào tay lái phía bên trái của xe 22B1 – 317.06 còn tay phải H cầm vào yên xe phía sau. H đẩy chiếc xe mô tô này lùi lại phía sau để mang ra phía trước nhà trọ cho T, khi đẩy xe lùi khoảng 01 mét thì ông N đang ở trong phòng số 11 phát hiện chiếc xe 22B1 – 317.06 đang chuyển động nên đã tri hô và cùng với ông Nguyễn Thanh Sang E bắt giữ được H, sau đó giao H cho Công an phường K.
Công an phường K lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng, đồ vật tài sản có liên quan gồm: 01 (Một) xe mô tô biển số 22B1 – 317.06. Riêng T chạy thoát. Sau đó, Công an phường K chuyển giao hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 145/KLTS – TTHS ngày 23/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T xác định: 01(Một) xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn trắng – đen – bạc, biển số 22B1 – 317.06, đã qua sử dụng có trị giá là 9.375.000 đồng (Chín triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Cáo trạng số 163/QĐ-KSĐT ngày 15/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Sỳ Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T giữ nguyên quyết đi ̣nh truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Sỳ Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm h, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Sỳ Đức H từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù;
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Cơ quan cảnh sát điều tra đa xữ ̉ lý vâ ̣t chứ ng đúng quy đi ̣nh nên không đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Đỗ Trọng N không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử đặt ra xem xét.
- Đối với ông Thạch Minh K không biết việc T và H bàn bạc, chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 22B1 – 317.06 của ông N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không xử lý là đúng quy định của pháp luật nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Đối với đối tượng tên T (không rõ nhân thân) cùng H thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô này. Quá trình điều tra đến nay, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T chưa xác minh được nhân thân lai lịch của T. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Quá trinh điều tra và
̀ ta ̣i phiên toà bi ̣ cáo trình bày thống nhất vớ i nô ̣i dung bản Cáo tra ̣ng số 163/QĐ-KSĐT ngày 15/11/2017 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân thi ̣ xa T vã
̀ thống nhất về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và không trình bày bổ sung gì thêm.
Quá trinh điều tra và tại phiên toà người bị hại ông Đỗ Trọng N khai: Xe mô tồ hiệu Honda Wave Alpha biển số 22B1 – 317.06 do bà Nguyễn Thị Vân A là chị dâu của ông N mua và đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2014, bà A cho ông N chiếc xe này để làm phương tiện đi lại nhưng ông N chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 22/8/2017, ông N dựng xe mô tô biển số 22B1 – 317.06 trước cửa phòng trọ số 11 của mình thuộc nhà trọ Nguyễn Thị H ở khu phố L, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương thì bị bị cáo H trộm cắp. Ngày 05/10/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe nêu trên, ông N đa nhâ ̣̃
n la ̣i xe và không yêu cầu gì khác. Tại phiên tòa bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, con của bị cáo còn nhỏ nên ông N xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Vân A trình bày: Bà Vân A là chủ sở hữu đối với xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn trắng – đen – bạc, biển số 22B1 – 317.06. Bà A mua xe này vào năm 2012, giá 16.500.000 đồng. Bà A sử dụng chiếc xe mô tô này đến năm 2014 thì cho ông N để làm phương tiện đi lại. Ngày 05/10/2017, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra Quyết định xử lý vật chứng số 141 và trả lại chiếc xe nêu trên cho ông Đỗ Trọng N nên bà Vân A không có yêu cầu gì khác.
Quá trình điều tra người làm chứng ông Nguyễn Thanh Sang E trình bày: Ông E là người ở trọ tại phòng số 12, khu nhà trọ Nguyễn Thị H, thuộc khu phố L, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Vào lúc khoảng 11 giờ ngày 22/8/2017 khi đang ở trong phòng thì ông E nghe tiếng tri hô “trộm, trộm” nên ông E cùng với ông N bắt giữ được thanh niên lấy xe của ông N và giao cho Công an phường K để xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra người làm chứng ông Thạch Minh K trình bày: Ông K là người thuê trọ tại phòng số 09, khu nhà trọ Nguyễn Thị H, thuộc khu phố L, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Vào lúc khoảng 10 giờ ngày 22/8/2017 Sỳ Đức H có đến phòng trọ nhờ ông K xin việc làm. Ông K trả lời là không thể giúp H được, sau đó có T đến chơi thì ông K để H và Tài nói chuyện còn ông K leo lên gác đi ngủ. Việc T và H bàn bạc để lấy xe như thế nào thì ông K không biết. Sau khi sự việc xảy ra thì ông K mới biết là H lấy xe của ông N còn T đã bỏ chạy. Ông K không biết nơi cư trú cụ thể của T vì chỉ mới quen biết T.
Trong lờ i nói sau cùng bi ̣ cáo trình bày: Bi ̣ cáo đã nhâ ̣n thứ c được hành vi trộm cắp tài sản là pha ̣m tội. Đề nghi ̣ Hội đồng xét xử xem xét giảm nhe ̣ hinh pha ̣t để bi ̣ cáo sớ m
̀ được trở về nhà lao động nuôi gia đình, phụng dưỡng cha me ̣, chăm sóc con nhỏ.
̀
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :
Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án, căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃
c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên toà, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:
[1] Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng: Bi ̣ cáo thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i trên đi ̣a bàn thi ̣ xa T, tĩ
nh̉ Binh Dương. Cơ quan Cà
̉nh sát điều tra Công an thi ̣ xa T khỡ
̉ i tố vu ̣ án, khở i tố bi ̣ can đối vớ i bị cáo là đúng thẩm quyền. Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng củ a Cơ quan điều tra Công an thi ̣ xa T, Điều tra viên, Viê ̣̃
n kiểm sát nhân dân thi ̣ xa T, Kiểm sã
́t viên trong quá trinh điều tra, truy tồ
́ đa thự̃
c hiê ̣n đúng về thẩm quyền, trinh tự̀
, thủ tu ̣c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hình sự. Quá trinh điều tra và
̀ ta ̣i phiên toà, bi ̣ cáo và ngườ i bị hại không có ngườ i nào có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng củ a cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃
c hiê ̣n đều hợp pháp.
[2] Về tinh tiết đi ̣̀
nh tô ̣i, đi ̣nh khung hinh pha ̣̀
t:
Ngày 22/8/2017 ta ̣i khu phố L, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương bi ̣ cáo Sỳ Đức H đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn trắng – đen – bạc, biển số 22B1 – 317.06 tri ̣ giá tại thời điểm chiếm đoạt là 9.375.000 đồng (Chín triệu ba trăm bảy mươi lăm nghin đồng) của ông Đỗ
̀ Trọng N. Theo quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 1 Điều 138 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự̀
thi “̀ Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Khi thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i, bi ̣ cáo đủ năng lực chi ̣u trách nhiê ̣m hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, vì mục đích tư lợi, thái độ coi thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi củ a bi ̣ cáo Sỳ Đứ c H đa cấu thã
̀nh tô ̣i “Trộm cắp tài sản”, tô ̣i pha ̣m và hinh pha ̣̀
t được quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.
Như vâ ̣y, Cáo trạng số 163/QĐ-KSĐT ngày 15/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bi ̣ cáo Sỳ Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự cũng như quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tinh tiết tăng nă ̣̀
ng trách nhiê ̣m hình sự: Bi ̣ cáo không có tinh tiết tăng nă ̣̀
ng trách nhiê ̣m hinh sự̀
.
[4] Về tinh tiết già
̉m nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự̀
: Quá trinh điều tra và
̀ ta ̣i phiên toà, bị cáo có thái đô ̣ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc Hoa; tài sản trô ̣m cắp đã được thu hồi trả la ̣i cho ngườ i bi ̣ ha ̣i và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại Điểm p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Bi ̣ cáo pha ̣m tô ̣i thuô ̣c trườ ng hợp it nghiêm tro ̣́
ng nhưng không phải là pha ̣m tô ̣i lần đầu nên không được hưở ng tình tiết giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hình sự quy đi ̣nh ta ̣i Điểm h Khoản 1 Điều 46 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự̀
.
[5] Căn cứ quyết đi ̣nh hình pha ̣t:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bi ̣ cáo có nhân thân xấu thể hiê ̣n ngày 06/5/2009 bị cáo đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 11/7/2011 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản”. Do chuyển biến tình hình nên bị cáo đã không bị truy tố, xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tinh tiết già
̉m nhe ̣ như nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giảm một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luâ ̣t mà yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội. Hô ̣i đồng xét xử thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứ ng vớ i tinh chất, mứ
́ c đô ̣ của hành vi pha ̣m tô ̣i; đủ tác du ̣ng giáo du ̣c bi ̣ cáo và răn đe, phòng ngừ a chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Đỗ Trọng N không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Cơ quan cảnh sát điều tra đã ban hành quyết định xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Về kiến nghi ̣: Hô ̣i đồng xét xử thấy không có văn bản hành chinh hoă ̣́
c hành vi hành chinh ná
̀o của cơ quan nhà nướ c vi pha ̣m nên không kiến nghi ̣.
Đối với đối tượng tên T là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp với bị cáo, kiến nghi ̣ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
[9] Về viê ̣c xem xét viê ̣c áp du ̣ng, thay đổi hoă ̣c huỷ bỏ biê ̣n pháp ngăn chă ̣n: Xét thấy cần thiết tiếp tu ̣c tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[10] Về chi phí tố tu ̣ng: Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1999 và Điểm a, Khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Sỳ Đức H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hinh pha ̣̀
t: Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Sỳ Đức H 09 (Chín) tháng tù, thờ i ha ̣n chấp hành hinh pha ̣̀
t tù tinh tứ
̀ ngày 22/8/2017.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Bị cáo Sỳ Đức H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phi hí ̀nh sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
4.1. Bị cáo và người bị hại có mặt ta ̣i phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
4.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt ta ̣i phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - PV27, Công an tỉnh Bình Dương (01); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thị xã Tân Uyên (01); - Công an thị xã Tân Uyên (02); - Chi cục THADS thị xã Tân Uyên (01); - Người tham gia tố tụng (03); - Lưu: HS, VT (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hiền |