vanban.org

Bản án 18/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Mạnh H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt và tạm giữ 23/8/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Mạnh H - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2026/HS-ST
Ngày: 29/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Anh Đức;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Thái Quang Định và ông Đinh Đức Thành;

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương Linh – kiểm sát viên.

Ngày 29/01/2026, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 2- Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2026/QĐXXST-HS ngày 15/01/2026 đối với các bị cáo:

1. Lê Mạnh H, (tên gọi khác: không), sinh ngày 05/10/1996 tại Quảng Ninh; Nơi cư trú: khu Đ1, phường Liên H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị Tr; có vợ là Vũ Thị L, có 01 con sinh năm 2020; Tiền án: ngày 30/9/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 23/01/2024 chấp hành xong bản án; tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

2. Đỗ Văn Th, (tên gọi khác: không), sinh ngày 20/8/1996 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: khu Tiền Ph1, phường Liên H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H2 và bà Nguyễn Thị B, có vợ là Lưu Thị Tr, có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 30/11/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xử phạt 15 tháng tù về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"; ngày 01/9/2016 chấp hành xong bản án

Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

3. Lưu Văn C, (tên gọi khác: không), sinh ngày 19/9/1997 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: khu Tiền Ph3, phường Liên H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T và bà Phạm Thị S, Vơ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Thị Kim Ch, (tên gọi khác: không), sinh ngày 02/9/1984 tại Tây Ninh; nơi cư trú: số 89, đường số 19 Bời L, khu phố Ninh L, phường Bình Minh, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R (đã chết) và bà Lê Thị T, chồng: Không xác định, có 01 con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị Th, anh Nguyễn Văn Ng, anh Nguyễn Đình S, anh Phạm Quốc Bao C, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn Th và Lê Mạnh H có quan hệ họ hàng trong gia đình. Khoảng 21 giờ ngày 21/8/2025, Th gọi điện qua ứng dụng Messenger rủ H sử dụng ma tuý, H đồng ý. Cả hai thống nhất mua 03 viên ma tuý "thuốc lắc" và 01 túi ma tuý Ketamine rồi thuê phòng hát Karaoke để cùng nhau sử dụng. Sau đó, H liên lạc và đi mua được 03 viên ma tuý "thuốc lắc" với giá 500.000 đồng/01 viên và 01 túi nilon ma tuý Ketamine với giá 1.500.000 đồng rồi H qua đón Th đi tìm quán Karaoke. Tuy nhiên do không tìm được phòng hát nên cả hai đi về nhà. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/8/2025, Th, H cùng Lưu Văn C (là bạn bè quen biết của Th và H) cùng đi ăn đêm tại khu Đình 1, phường Liên Hòà, tỉnh Quảng Ninh. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, Th rủ H và C đi hát Karaoke và sử dụng ma tuý, rồi bảo H cầm số ma tuý mua trước đó để sử dụng, H đồng ý. Cả ba người đến quán Karaoke Hải Âu thuộc khu Liên H 3, phường Liên H, tỉnh Quảng Ninh. Đến quán, Th thuê phòng VIP 8888 và gọi thêm 3 nhân viên nữ phục vụ. Cả ba thống nhất sẽ sử dụng hết số ma tuý H vừa mua được. H chia cho Th và C mỗi người 01 viên thuốc lắc, cả ba sử dụng bằng hình thức uống với bia, nước nuốt trực tiếp vào cơ thể, riêng C nuốt được một ít thì thấy đắng quá nên đã nhổ ra nền nhà.

Khoảng 30 phút sau, H lấy từ trong túi quần bên phải của mình ra 01 túi ma tuý Ketamine được đựng trong 01 túi nilon màu trắng có khóa kẹp, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 chiếc bật lửa đỏ, để chuẩn bị cho mọi người cùng sử dụng. H đỗ nửa lượng ma tuý Ketamine trong túi nilon lên trên bề mặt tò tiền và dùng bật lửa hơ nóng, nghiền mịn, lúc này Nguyễn Thị Kim Ch, Nguyễn Thị Hiền (sinh năm 2007, trú tại xã Hải Lạng, tỉnh Quảng Ninh) và Nguyễn Thị Thanh (sinh năm 2000, trú tại xã Khúc Thừa Dụ, thành phố Hải Phòng), là nhân viên quán hát vào phục vụ. H đưa tờ tiền 5.000 đồng bên trong có ma túy, mời Th sử dụng. Tuy nhiên, Th không dùng mà xé đôi tờ tiền 5.000 đồng ra thành 02 mảnh rồi chia nhỏ ma túy vào 02 nửa tờ tiền trên, đưa cho H và C mỗi người một nửa tờ tiền có chứa ma tuý. H nhận nửa tờ tiền 5.000 đồng bên trên có ma tuý và lấy số ma tuý còn lại trong túi nilon tại túi quần đặt xuống nền nhà, mục đích để mọi người cùng sử dụng hết số ma túy. Do không có dụng cụ để hít ma tuý, nên C cùng Ch đi ra phía ngoài phòng hát, để tìm ống hút nhưng không có. Cả hai quay lại phòng hát, C thấy có bao thuốc lá ba số 555 trên mặt bàn nên bảo Ch lấy ruột vỏ bao thuốc lá ba số 555 để cuộn thành ống hút. Ch làm theo rồi chia ma túy bên trong tờ tiền thành những đường thẳng nhỏ dài khoảng 01 - 02 cm. Sau đó, C bảo Ch mời H và Th sử dụng ma túy, H và Th lần lượt cầm tờ tiền và ống hút của Ch đưa, mỗi người hít 02 đường ma túy qua mũi. Sau đó, cả nhóm tiếp tục cùng nhau sử dụng ma tuý hát và nhảy trong phòng hát.

Đến khoảng 04 giờ 50 phút cùng ngày, Công an phường Liên H, tỉnh Quảng Ninh kiểm tra hành chính tại Phòng VIP 8888 quán Karaoke Hải Âu thuộc khu Liên H 3, phường Liên H, tỉnh Quảng Ninh phát hiện nhóm: Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C, Nguyễn Thị Kim Ch, Nguyễn Thị Hiền và Nguyễn Thị Thanh có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ: thu tại nền nhà giữa phòng hát ½ tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp mép, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); thu tại nền nhà nơi vị trí ghế Lê Mạnh H ngồi 01 túi nilon màu trắng, loại túi có khóa kẹp chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2); 02 mảnh viên nén màu xanh, nhiều góc cạnh, không xác định hình dạng, kích thước (ký hiệu M5); thu tại nền nhà vị trí ghế Nguyễn Thị Kim Ch ngồi, ½ tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được gấp mép, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M3); 01 đoạn ống hút được cuộn từ giấy màu tím than bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M4); thu trong túi quần phía trước bên trái của Lưu Văn C 01 bật lửa màu đỏ. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 15 màu đen gắn sim số 0979.680.016 của C, 01 điện thoại di động Iphone 14 pro màu tím gắn sim số 0972.395.571 của Thăng, 01 điện thoại di động Xs Max gắn sim số 0876.889.779 của H và thu mẫu nước tiểu của Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C, Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C.

Tại bản kết luận giám định số: 1243/KL-KTHS ngày 30/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tinh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật ký hiệu từ M1 - M3 có khối lượng lần lượt là 0,062g: 0,536g; 0,007g và mẫu vật M4 là dạng vết không xác định được khối lượng, đều là ma tuý loại Ketamine. Đối với mẫu vật M5 khối lượng 0,195 gam là ma tuý loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine. Tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine, MDMA, Ketamine trong mẫu nước tiêu ghi thu của Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C; không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Methamphetamine, MDMA, Ketamine...) và sản phẩm chuyên hoa trong mầu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Thị Kim Ch. Quá trình điều tra, Đỗ Văn Th, Lê Mạnh H, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Quá trình điều tra, Đỗ Văn Th, Lê Mạnh H, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Ngoài ra, H còn khai: nguồn gốc ma tuý cả bọn sử dụng trên là H mua của đối tượng tên Phạm Quốc Bao Công (sinh năm 2002, trú tại khu phố Đông 2, phường Liên Hòà, Quảng Ninh), với giá 3.000.000 đồng, nhưng chưa thanh toán tiền; số ma tuý đó cả bọn đều thống nhất sẽ tổ chức sử dụng hết, tuy nhiên khi đang sử dụng thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng

Về vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại kèm kết luân giám định số 1243/KL-KTHS: 01 điện thoại di động Iphone 15 màu đen gắn sim số 0979.680.016, 01 điện thoại di động Iphone 14 pro màu tím gắn sim số 0972.395.571, 01 điện thoại di động Xs Max gắn sim số 0876.889.779 và 01 bật lửa màu đỏ, chuyển đến Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2- Quảng Ninh để quản lý theo quy định của pháp luật.

Bản Cáo trạng số: 48/CT-VKSKV2 ngày 08/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lê Mạnh H về tội“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Đỗ Văn Th, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch về tội“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh, giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố;

Đề nghị áp dụng điểm b,h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Mạnh H từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”,thời hạn tù tính từ ngày bị bắt và tạm giữ 23/8/2025.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt:

Bị cáo Đỗ Văn Th từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù đến về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”,thời hạn tù tính từ ngày bị bắt và tạm giữ 23/8/2025.

Bị cáo Lưu Văn C từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm tù đến về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”,thời hạn tù tính từ ngày bị bắt và tạm giữ 23/8/2025.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thị Kim Ch từ 05 (năm) năm tù đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”,thời hạn tù tính từ ngày bị bắt và tạm giữ 23/8/2025.

Đề nghị áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 1243/KL-KTHS số 01 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 1243/KL-KTHS số 02 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng.

+ Tịch thu tiêu hủy các sim điện thoại số thuê bao 0972.395.571 thu giữ của Đỗ Văn Th; và sim điện thoại số thuê bao 0876.889.779 của Lê Mạnh H.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 pro vỏ màu tím thu giữ của Đỗ Văn Th, điện thoại Iphone XS Max vỏ màu vàng thu giữ của Lê Mạnh H.

+ Trả lại bị cáo Lưu Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 vỏ màu đen gắn sim điện thoại số thuê bao 0979.680.016 không sử dụng vào việc phạm tội.

Tại phiên tòa các bị cáo Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch đều thừa nhận hành vi phạm tội và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội nên không tranh luận; các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về trình tự thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh:

Tại phiên tòa các bị cáo Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và tại Cơ quan điều tra đều phù hợp với nhau; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch ngày 23/8/2025, phù hợp với lời khai của những người làm chứng; phù hợp với Kết luận giám định số: 1243/KL-KTHS ngày 30/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Các bị cáo đều là người trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 22/8/2025, tại phòng hát VIP 8888 quán Karaoke Hải Âu thuộc khu Liên Hòà 3, phường Liên Hòà, tinh Quảng Ninh, Đỗ Văn Th, Lê Mạnh H, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch đã có hành vi cùng tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine.

Bản Cáo trạng số: 48/CT-VKSKV2 ngày 08/101/2026, của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh đã truy tố đối với các bị cáo và các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.

. Về hình phạt:

Xét nhân thân của bị cáo cho thấy:

Các bị cáo Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch có nhân thân tốt, đều phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo Lê Mạnh H có nhân thân xấu, ngày 30/9/2020, đã từng bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định của khoản 2 Điều 255 BLHS (đến nay chưa được xoá án tích). Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý, đến nay lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo bị coi là tái phạm nguy hiểm.

Bị cáo Đỗ Văn Th bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xử phạt 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” vào ngày 30/11/2015. Ngày 01/9/2016 chấp hành xong bản án. Lần phạm tội này của bị cáo không được tính là tái phạm nhưng cũng có thể thấy bị cáo có nhân thân xấu.

Xét các tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch không có tình tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét về vai trò đồng phạm của các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có bàn bạc hay có kế hoạch từ trước. Trong đó, bị cáo Th là người khởi xướng, chịu trách nhiệm trả tiền phòng hát, còn bị cáo H là người hưởng ứng tích cực, trực tiếp đi mua ma tuý, chia cho các bị cáo khác để sử dụng. Bị cáo Th và bị cáo H giữ vai trò ngang nhau trong vụ án, tuy nhiên, bị cáo H phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên giữ vai trò đầu vụ, chịu mức hình phạt nghiêm khắc nhất, còn bị cáo Th giữ vai trò thứ hai và chịu mức hình phạt nghiêm khắc thứ hai trong vụ án. Thứ ba là bị cáo C, tích cực hưởng ứng, thực hiện hành vi phạm tội, chỉ đạo bị cáo Ch làm ống hít và mời mọi người dùng ma tuý nên chịu mức hình phạt thứ ba. Cuối cùng là bị cáo Ch giữ vai trò ít nhất trong vụ án.

Sau khi xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần phải xử phạt với một mức hình phạt tương xứng với từng bị cáo về hành vi phạm tội và phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên trong quá trình lượng hình, xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị Kim Ch có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo là nhân viên phục vụ của quán karaoke, bị cáo chỉ làm theo sự chỉ đạo của bị cáo C, bản thân bị cáo cũng không sử dụng ma túy cùng ba bị cáo còn lại. Trong vụ án này bị cáo Ch chỉ có vai trò thứ yếu nên áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt cho bị cáo Nguyễn Thị Kim Ch hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Điều luật quy định để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Nhưng xét thấy hiện tại các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về vật chứng:

+ Số ma túy hoàn lại sau giám định chứa trong hai phong bì niêm phong số: 1243/KL-KTHS số 01 và số 02 là vật cấm tàng trữ lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 bật lửa ga màu đỏ không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

+ Đối với các sim điện thoại số thuê bao 0972.395.571 thu giữ của Đỗ Văn Th và sim điện thoại số thuê bao 0876.889.779 của Lê Mạnh H là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 02 điện thoại di động bao gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 pro vỏ màu tím thu giữ của Đỗ Văn Th), 01 điện thoại di động Iphone XS Max vỏ màu vàng thu giữ của Lê Mạnh H là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 vỏ màu đen thu giữ của Lưu Văn C cùng sim điện thoại số thuê bao 0979.680.016 không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

. Các vấn đề khác:

Đối với Phạm Quốc Bao Công (sinh năm 2002, trú tại khu phố Đông 2, phường Liên Hoà, Quảng Ninh) mà H khai là người bán ma tuý cho mình, tuy nhiên anh Công không thừa nhận ngày 21/8/2025 bán ma tuý cho H nên không xem xét giải quyết.

. Về án phí:

Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b,h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Mạnh H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt và tạm giữ 23/8/2025.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Th 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt và bị tạm giữ 23/8/2025.

Xử phạt bị cáo Lưu Văn C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt và bị tạm giữ 23/8/2025.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim Ch 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt và bị tạm giữ 23/8/2025.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ các a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 1243/KL-KTHS số 01 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 1243/KL-KTHS số 02 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng.

+ Tịch thu tiêu hủy các sim điện thoại số thuê bao 0972.395.571 của Đỗ Văn Th; và sim điện thoại số thuê bao 0876.889.779 của Lê Mạnh H.

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 pro vỏ màu tím thu giữ của Đỗ Văn Th) và điện thoại Iphone XS Max vỏ màu vàng thu giữ của Lê Mạnh H.

+ Trả lại bị cáo Lưu Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 vỏ màu đen cùng sim điện thoại số thuê bao 0979.680.016.

(Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 - Quảng Ninh ngày 09/01/2026).

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Lê Mạnh H, Đỗ Văn Th, Lưu Văn C và Nguyễn Thị Kim Ch mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ