vanban.org

Bản án 18/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hồ Khánh D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Khánh D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2025. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Công T và Đồng Phạm - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hồ Khánh D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/HS-ST
Ngày: 15-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hòa

Ông Nguyễn Văn Ngọc.

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Phương Thảo – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 2- Đồng Nai xét xử công khai với hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Đồng Nai, gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án. Điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến Phân trại tạm giam Long Thành Cơ sở 1 gồm bị cáo: Hồ K, cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ. Đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 197/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo: Hồ Khánh D; Giới tính: Nam; Sinh năm 2001, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Ấp T, xã A, tỉnh Đồng Nai; Số CCCD: 075201018967; cấp ngày 18/5/2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội- Bộ C; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Hồ Văn P; con bà Trần Thị T; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 11/10/2022, Tòa án nhân dân huyện Long Thành (nay Tòa án nhân dân khu vực 2, Đồng Nai) ra Quyết định số 26/2022/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đã chấp hành xong ngày 28/5/2024.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2025 đến nay (hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam L). (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Khánh D là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quyết định quản lý số 130/QĐ-UBND ngày 28/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai, thời hạn quản lý từ ngày 28/5/2024 đến ngày 28/5/2026. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 09/10/2025, D đến khu vực gần cầu T (giáp ranh giữa xã A và Phường T), mua của người đàn ông có tên là H (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng đem về nhà ở ấp T, xã A cất giấu. Đến 11/10/2025, D tự chế bộ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa có gắn nắp chai, trên nắp chai có đục 02 lỗ tròn trong đó 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh và lỗ còn lại gắn ống hút) rồi đổ số ma túy đã mua vào nỏ dùng hộp quẹt đốt sử dụng bằng cách hút cho đến khi hết.

Đến ngày 13/10/2025, lực lượng Công an xã A, tỉnh Đồng Nai tiến hành triệu tập D đến trụ sở làm việc, tiến hành Test nhanh mẫu nước tiểu của D phát hiện có chất ma túy loại Methaphetamine. Công an xã A đã lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hồ Khánh D và thu mẫu nước tiểu đưa đi giám định.

Tại Kết luận giám định số 2757/KL-KTHS ngày 20/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

“Mẫu nước tiểu của Hồ Khánh D được niêm phomg gửi đến giám định có tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine và chất chuyển hoá của Methamphetamine.

H1 lại đối tượng giám định: không hoàn lại mẫu vật gửi giám định. Mẫu vật đã sử dụng hết trong công tác giám định”.

Đối với người đàn ông tên “Hổ” chưa rõ lai lịch, đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 104/CT-VKSKV2, ngày 22 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai truy tố ra đối với bị cáo Hồ Khánh D về tội “sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Khánh D từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Hồ Khánh D là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quyết định quản lý số 130/QĐ-UBND ngày 28/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L (nay là xã A), tỉnh Đồng Nai, thời hạn quản lý từ ngày 28/5/2024 đến ngày 28/5/2026. Vào ngày 11 tháng 10 năm 2025, D tiếp tục có hành vi sử dụng ma tuý loại Methamphetamine tại nhà của mình ở ấp T, xã A, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã A phát hiện bắt giữ. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Đồng Nai truy tố bị cáo Hồ Khánh D về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bởi lẽ chất ma túy không đơn thuần chỉ là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an địa phương, phá vỡ hạnh phúc gia đình và làm thiệt hại đến kinh tế và sức khỏe bản thân, làm băng hoại đạo đức con người, suy giảm giống nòi. Bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý nhưng không tu dưỡng, từ bỏ việc sử dụng ma tuý mà vẫn lén lút mua, sử dụng nên cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về xử lý vật chứng: Mẫu vật đã sử dụng hết trong công tác giám định nên không đặt ra xem xét, quyết định.

Liên quan trong vụ án còn có: Đối với người đàn ông tên “Hổ” là người bán ma túy cho Hồ Khánh D. D không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định.

Về phần luận tội và đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Hồ Khánh D thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Hồ Khánh D biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Hồ Khánh D có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hồ Khánh D phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Khánh D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2025.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hồ Khánh D phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hồ Khánh D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ