- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Duy C và Hoàng Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự Tuyên bố các; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18 /2025/HS-ST Ngày 17 – 03 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Đình Tâm
2. Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Duy C; Sinh ngày: 10/10/1992, tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: 038092002864; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Lê Duy D và bà: Lê Thị H; Có vợ là Lê Thị Thanh T và 01 con sinh năm 2023; Tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2024 đến ngày 01/11/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 01/11/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Ngày 27/10/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 31/5/2022; Ngày 06/9/2022 bị Trưởng công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
2. Hoàng Văn P; Sinh ngày: 04/01/1997, tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: 038097010751; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Hoàng Văn S và con bà: Nguyễn Thị T1; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2024 đến ngày 01/11/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 01/11/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Duy C sinh năm 1992 và Hoàng Văn P sinh năm 1997 cùng trú tại thôn Q, xã T, huyện T, Thanh Hóa có mối quan hệ bạn bè quen biết với nhau. Khoảng 08 giờ sáng ngày 22/10/2024, C và P gặp nhau, C hỏi vay P 100.000đ để mua đồ ăn, P đồng ý và cho C vay tiền. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, C đến nhà P tìm P, C nói với P “cái chỗ 100.000đ vay lúc sáng bây giờ tính thế nào” ( ý C hỏi P nhận lại tiền hay góp tiền mua ma túy để cùng nhau sử dụng). Khi nghe P trả lời “vâng” thì cả C và P đều hiểu P đồng ý góp 100.000đ để C đi mua ma túy về cùng sử dụng. Sau đó C và P hẹn nhau chờ C đi mua ma túy về sẽ đi ra cánh đồng mía thuộc thôn Q, xã T để cùng nhau sử dụng.
Sau khi thống nhất với nhau, C một mình đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực trường THPT T2 4, xã T, huyện T mua 200.000đ một gói ma túy loại Heroine của một người đàn ông lạ mặt rồi quay về địa điểm đã hẹn với P ở bãi mía thuộc thôn Q, xã T. Tại đây P đã đứng chờ sẵn, cả hai cùng đi vào bờ ruộng mía sát đường đất, ngồi xuống, C đưa gói ma túy cho P, P cầm lấy mở gói ma túy ra, đổ chất bột màu trắng dạng nén vụn ra một tờ giấy bạc rồi dùng chiếc bật lửa ga màu vàng mang theo trong người đốt ở phía dưới giấy bạc cho ma túy thành dạng khói rồi đưa vào miệng để hút ma túy vào cơ thể. Sau đó P tiếp tục đốt và đưa ma túy để C hút ma túy vào cơ thể. C và P cùng nhau hút 02 lần ma túy thì hết toàn bộ số ma túy có trong giấy bạc, P dùng tay vò nát vỏ gói ma túy cùng giấy bạc sau đó ném vào ruộng mía.
Đến 13 giờ 10 phút ngày 23/10/2024 Lê Duy C nhận thức hành vi của bản thân là sai trái, vi phạm pháp luật nên đã đến Công an xã T, huyện T để tự thú về hành vi cùng với Hoàng Văn P tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 23/10/2024 Hoàng Văn P biết tin C đã đến cơ quan công an tự thú, P nhận thức được hành vi cùng với Lê Duy C tổ chức sử dụng chất ma túy đã bị Cơ quan Công an phát hiện nên đã đến Cơ quan Công an huyện T xin được đầu thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Quá trình đến Công an huyện T đầu thú, Hoàng Văn P tự nguyện giao nộp 01 bật lửa ga màu vàng (là dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy).
Cơ quan CSĐT đã xác định hiện trường nơi C và P tổ chức sử dụng ma túy tại cánh đồng mía thuộc thôn Q, xã T, huyện T. Kết quả đã xác định được vị trí cụ thể của P và C khi thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với vỏ gói ma túy bằng giấy bạc, sau khi sử dụng xong P đã vò nát thành các mảnh vụn và ném vào ruộng mía, CQĐT đã truy tìm nhưng không thấy.
Tại bản kết luận giám định số: 8346/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của V - Bộ C1 đã kết luận đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Lê Duy C và Hoàng Văn P như sau: Đều tìm thấy M, M1 và 6-Monoacetylmorphine trong các mẫu nước tiểu thu giữ của Lê Duy C và Hoàng Văn Phương
Morphine và 6-Monoacetylmorphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lê Duy C vào ngày 22/10/2024, do bị can khai nhận là lần đầu mua ma túy của người này, không xác định được tên, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập xác định hiện tại các bị can Lê Duy C và Hoàng Văn P không có tài sản và thu nhập.
Vật chứng của vụ án: khi đến đầu thú, Hoàng Văn P đã giao nộp 01 chiếc bật lửa ga màu vàng, chiều dài khoảng 8cm, chiều rộng khoảng 1,5cm, bật lửa đã qua sử dụng.Vật chứng này đã được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSTT ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, đã truy tố các bị cáo Lê Duy C, Hoàng Văn P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Lê Duy C từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Hoàng Văn P từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh tụng, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Lê Duy C và Hoàng Văn P đã thừa nhận: Vào ngày 22/10/2024, Lê Duy C và Hoàng Văn P đã góp mỗi người 100.000đ để C đi mua ma túy loại Heroine về và cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy bằng hình thức hút để đưa ma túy vào cơ thể tại khu vực cánh đồng mía thuộc thôn Q, xã T, huyện T, Thanh Hóa. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi của các bị cáo Lê Duy C và Hoàng Văn P đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
.Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo Lê Duy C là người khởi xướng và là người trực tiếp đi mua ma túy nên C có vai trò cao hơn P.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và cùng có 01 tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Lê Duy C còn có thêm tình tiết giảm nhẹ “Tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo P được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Những tình tiết này cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
. Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và các tệ nạn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra bị cáo C có nhân thân xấu đã bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác, nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để cải tạo các bị cáo thành công dân tốt, đồng thời giáo dục và phòng ngừa chung.
.Về người bán ma túy cho Lê Duy C, C khai không quen biết, không nhớ rõ mặt, không cung cấp được địa chỉ ở đâu nên nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản và không có thu nhập gì đáng kể nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc bật lửa gas là công cụ các bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy đến nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố các bị cáo Lê Duy C và Hoàng Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Duy C 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 23/10/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn P 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 23/10/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa ga màu vàng, chiều dài khoảng 8cm, rộng 1,5cm (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/02/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành)
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc Lê Duy C, Hoàng Văn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thạch Thành; - VKSND tỉnh Thanh Hoá; - Công an tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Lưu HSVA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị Hà Lưu Đình Tâm | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Hải THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Hải |