- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Vũ Đình Hải phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày: 25 – 03 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thanh Nhàn.
Bà Vũ Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diệu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
- Đại diện VKSND huyện Ý Yên tham gia phiên tòa: Chị Nguyễn Thị Diệu Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Đình H, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn 5, xã Phú Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; Con ông Vũ Ngọc Th (đã chết) và bà Bùi Thị T, cùng trú tại Thôn 5, xã Phú Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; Gia đình bị cáo có 05 anh chị em: bị cáo là thứ tư; Bị cáo có vợ là Trịnh Thị H1, sinh năm 1977 và có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2009;
- Tiền án:
+ Tại bản án số 297/2020/HS-ST ngày 28/9/2020 bị cáo bị TAND TP Nam Định xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 09/01/2022 bị cáo ra tù về địa phương (Chưa xoá án tích).
+ Tại bản án số 73/2022/HS-ST ngày 28/9/2022 bị cáo bị TAND huyện Ý Yên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 31/7/2024 bị cáo ra tù về địa phương (Chưa được xoá án tích).
- Tiền sự: Không.
- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 29/12/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tam giam tại trại tạm giam công an tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Chị Trịnh Thị H1, sinh năm 1977 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn 5, xã Phú Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
- Người làm chứng:
+ Anh Đinh Nguyễn Trọng H2, sinh năm 2005 (Vắng mặt).
+ Anh Nguyễn Đức H3, sinh năm 1966 (Vắng mặt).
+ Anh Tạ Văn H4, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
+ Anh Trần Đăng Th, sinh năm 1969 (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15h45’ ngày 23/12/2024 Tổ công tác thuộc phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Nam Định, đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Minh Sơn, xã Yên Chính, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định phát hiện Vũ Đình H điều khiển xe mô tô BKS 35AA-11.333 đang dừng bên đường có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính, do sợ hãi nên Vũ Đình H thả từ lòng bàn tay trái xuống đất ngay tại vị trí dừng xe, 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, H khai nhận đó là heroine mua về sử dụng cá nhân. Tổ công tác thu giữ niêm phong 01 gói giấy bạc màu trắng ký hiệu A rồi đưa H về UBND xã Yên Chính lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển hồ sơ cho cơ quan CSĐT-Công an huyện Ý Yên giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan CSĐT-Công an huyện Ý Yên Vũ Đình H khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 15h45’ ngày 23/12/2024 H đi xe mô tô đến khu vực thôn Minh Sơn, xã Yên Chính để tìm mua ma tuý. Đến nơi H gặp 01 người đàn ông không quen biết, mặt đeo khẩu trang, đội mũ, qua nói chuyện H biết người này có bán ma tuý nên hỏi mua ma tuý heroine với giá 200.000đ. Người đàn ông đồng ý nhận tiền, đưa lại cho H 01 gói giấy bạc màu trắng. H cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái, định đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Ngoài số ma tuý, Cơ quan CSĐT-Công an huyện Ý Yên còn thu giữ của H: mẫu nước tiểu niêm phong ký hiệu A1; 01 điện thoại di động đã qua sử dụng có chữ OPPO, bên trong có lắp sim số 0876552786, số IMEL1: 863511048461158, số IMEL2: 863511048461141 được niêm phong ký hiệu A2; 01 xe mô tô hiệu DEALIMIKD số khung RLPBCB8UMMB100798, số máy VZS139FMB63100798 BKS 35AA-113.33 và số tiền mặt 70.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 144/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định kết luận : Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu trắng, được niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine; Khối lượng mẫu A: 0,164 gam.
Tại bản kết luận giám định số 145/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định kết luận: Có tìm thấy thành phần các chất gồm Morphine, Codeine và 6-MAM trong 01 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định. (Morphine, Codeine và 6 MAM là các sản phẩm chuyển hoá của Heroin trong nước tiểu. (Sau khi giám định đã huỷ mẫu giám định).
Ngày 27/12/2024 Cơ quan CSĐT-Công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Vũ Đình H và người đàn ông bán ma tuý cho H, quá trình điều tra không xác định tên, tuổi, địa chỉ của người này ở đâu. Vì vậy Cơ quan CSĐT-Công an huyện Ý Yên không có đủ căn cứ để xác minh, xử lý.
Vật chứng vụ án được xác định gồm: 01 phong bì niêm phong của phòng hình sự-Công an tỉnh Nam Định, mặt trước có ghi số 144/KL-KTHS, “Kính gửi: Cơ quan CSĐT-CA tỉnh Nam Định. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ Vũ Đình H sinh năm 1979 phạm tội về ma tuý ngày 23/12/2024”, được niêm phong bởi 03 hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, có chữ ký, họ tên Bùi Xuân Mạnh, Phan Hoàng Phú và đương sự Vũ Đình H; 01 điện thoại di động đã qua sử dụng có chữ OPPO, bên trong có lắp sim số 0876552786, số IMEL1: 863511048461158, số IMEL2: 863511048461141 được niêm phong ký hiệuA2; 01 xe mô tô hiệu DEALIMIKD số khung RLPBCB8UMMB100798, số máy VZS139FMB63100798 BKS 35AA-113.33 và số tiền mặt 70.000 đồng thu giữ của Vũ Đình H.
Tại giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo Vũ Đình H đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Bản Cáo trạng số 14/CT-VKS-YY ngày 20/02/2025 của VKS nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định. Truy tố bị cáo Vũ Đình H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND huyện Ý Yên trình bày quan điểm luận tội giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Vũ Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Vũ Đình H từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, ngày 23/12/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý thu giữ của Vũ Đình H được hoàn lại sau giám định. Trả lại 01 điện thoại di động đã qua sử dụng có chữ OPPO, bên trong có lắp sim số 0876552786, số IMEL1: 863511048461158, số IMEL2: 863511048461141 được niêm phong ký hiệu A2 và số tiền mặt 70.000 đồng cho bị cáo Vũ Đình H nhưng đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Trả lại 01 xe mô tô hiệu DEALIMIKD số khung RLPBCB8UMMB100798, số máy VZS139FMB63100798 BKS 35AA-113.33 cho gia đình bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay. Lời khai phù hợp với lời khai người làm chứng; biên bản về việc bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15h 45’ ngày 23/12/2024, tại khu vực thôn Minh Sơn, xã Yên Chính, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Vũ Đình H đã có hành vi tàng trữ 0,164 gam Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác thuộc phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang. Bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá án tích do vậy hành vi phạm tội lần này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng của VKSND huyện Ý Yên đã truy tố là đúng pháp luật.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính mạng, sức khỏe con người, làm băng hoại đến giá trị chuẩn mực đạo đức trong đời sống nhân dân. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng vi phạm pháp luật bị các cơ quan chức năng xử phạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà cùng với việc đánh giá toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Cần tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý thu giữ của Vũ Đình H được hoàn lại sau giám định. Đối với 01 điện thoại di động đã qua sử dụng có chữ OPPO, bên trong có lắp sim số 0876552786, số IMEL1: 863511048461158, số IMEL2: 863511048461141 được niêm phong ký hiệu A2 và số tiền mặt 70.000 đồng, quá trình điều tra xác định không phải là vật chứng của vụ án nên cần trả lại cho bị cáo Vũ Đình H tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 xe mô tô hiệu DEALIMIKD số khung RLPBCB8UMMB100798, số máy VZS139FMB63100798 BKS 35AA-113.33 quá trình điều tra xác định xe máy trên là tài sản của gia đình bị cáo, không phải là vật chứng của vụ án, không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng nên cần trả lại cho gia đình bị cáo cụ thể là chị Trịnh Thị H1 là vợ bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy: Cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được người đàn ông bán ma túy cho Vũ Đình H nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Vũ Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vũ Đình H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý thu giữ của bị cáo Vũ Đình H được hoàn lại sau giám định;
- Trả lại 01 điện thoại di động đã qua sử dụng có chữ OPPO, bên trong có lắp sim số 0876552786, số IMEL1: 863511048461158, số IMEL2: 863511048461141 được niêm phong ký hiệu A2 và số tiền mặt 70.000 đồng cho bị cáo Vũ Đình H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho chị Trịnh Thị H1 (là vợ bị cáo) 01 xe mô tô hiệu DEALIMIKD số khung RLPBCB8UMMB100798, số máy VZS139FMB63100798, có BKS 35AA-113.33.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Ý Yên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ý Yên).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Đình H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Đình H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh, huyện Ý Yên; - Công an huyện Ý Yên; - T.H.A dân sự huyện Ý Yên; - Bị cáo; - UBND xã Phú Hưng, huyện Ý Yên; - Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Minh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Minh |