- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thế Quyền - Sản xuất hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1,2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:18/2024/HS- ST Ngày: 06/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Anh Đức;
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Dung và bà Vũ Thị Xuyến;
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thùy Dương, Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: ông Đỗ Mạnh Hoàng – kiểm sát viên.
Ngày 06/3/2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ L số: 06/2024/HSST ngày 01/02/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 21/02/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thế Q, sinh ngày 09/6/2005 tại Uông Bí, Quảng Ninh; giới tính: nam; nơi cư trú tại tổ 2, khu N, phường Đ, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Sinh viên; học vấn:12/12; bố là ông Trần Văn S và mẹ là bà Phạm Thị L; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến ngày 02/02/2024 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Hiện đang tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn S, sinh năm 1982, địa chỉ tại tổ 2, khu N, phường Đ, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Xuân Q và anh Lê Mạnh Ch. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 12/2023, bị cáo Trần Thế Q nảy sinh ý định tự cuốn pháo nổ đốt у dịp Tết nguyên đán 2024. Q lên mạng, tự tìm hiểu, học cách chế tạo pháo nổ và các nguyên liệu cần sử dụng để làm pháo nổ. Khi xem xong, Q tìm mua trên mạng chất hóa học về trộn để làm thuốc pháo như lưu huỳnh, Natri, Kali và các vật dụng như: giấy màu đỏ, kéo, keo, thước, dao rọc giấy, màng bọc thức ăn... Khi đã có đủ nguyên liệu để chế tạo pháo, Q đến căn nhà hoang trên đồi thuộc tổ 2, khu N, phường Đ, thành phố Uông Bí (cách nhà khoảng 300m) và bắt đầu làm ra các quả pháo hoàn thiện. Q chế tạo nhiều quả pháo loại nhỏ bằng giấy màu đỏ hình trụ tròn, 2 đầu bịt kín và 1 đầu có dây 2cm rồi kết các quả pháo loại nhỏ xe kẽ nhau thành tràng dài khoảng 1m. Ngoài ra, Q tự chế tạo ra quả pháo hình trụ tròn kích thước lớn hơn, 2 đầu cũng bịt kín và 1 đầu có dây dẫn, kích thước mỗi quả dài khoảng 11cm, đường kính 6cm. Q bắt đầu chế tạo pháo nổ từ ngày 22/12/2023 đến chiều ngày 29/12/2023 được 5 tràng pháo và 21 quả pháo. Quá trình chế tạo pháo gồm các bước: chế tạo thuốc pháo, chế tạo phôi quả pháo, quấn dây dẫn (dẫy ngòi), hoàn thiện pháo nổ. Khi đã có nhiều quả pháo thành phẩm, Q sử dụng một dây dẫn dài ở giữa rồi ghép các đầu dây dẫn của quả pháo lại so le nhau, dùng dây vải dù buộc liên kết các đầu dây quả pháo với sợi dây dẫn chính này để tạo thành một bặng pháo, hoàn thành việc sản xuất pháo nổ. Sau đó, Q nghĩ nếu để toàn bộ số pháo trên để ở căn nhà hoang sẽ bị người khác phát hiện lấy mất, còn mang về nhà sẽ bị gia đình phát hiện nên khoảng 19 giờ ngày 29/12/2023, Q cho 5 tràng pháo và 15 quả pháo vào bao tải dứa màu vàng để lên xe mô tô Honda Wave A, BKS 14Y1-362.29 đi tìm chỗ cất giấu. Khi đi đến tổ 1, khu Liên Phương, phường Đ, thành phố Uông Bí thì bị công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng, gồm:
Thu trong 01 bao tải dứa màu vàng để tại võng giá xe mô tô Q đang đi, phát hiện bên trong đựng 3 túi nilon màu đen, 2 túi nilon màu xanh, 2 túi nilon màu trắng. Bên trong các túi nilon này chứa:
- 5 tràng có đặc điểm: mỗi tràng dài khoảng 95cm, trên mỗi tràng gắn nhiều cuộn giấy hình trụ tròn vỏ bằng giấy màu đỏ, được bịt kín 2 đầu, 1 đầu có gắn 1 sợi dây; mỗi cuộn trung bình dài khoảng 6,5cm, đường kính khoảng 2cm.
- 15 cuộn giấy có đặc điểm: đều là cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ, dài khoảng 11cm, đường kính khoảng 6cm.
Ngoài ra, còn thu giữ của Q: 1 xe mô tô Honda Wave A, BKS 14Y1-362.29 cùng 1 giấy chứng nhận đăng ký xe; 1 điện thoại di động Iphone XS Max, vỏ màu vàng gắn sim số 0978.308.265.
Khoảng 00 giờ 15 ngày 30/12/2023, tiến hành khám xét căn nhà hoang ở tổ 2, khu N, phường Đ, thành phố Uông Bí, thu giữ:
- 06 quả pháo nổ (tổng khối lượng là 0,11kg).
- 06 sợi dây nilon kích thước dài ngắn khác nhau, đường kính khoảng 02mm, màu trắng bên trong chứa chất bột màu xám (là dây cháy chậm hay còn gọi là ngòi pháo, khi đốt hoặc kích thích bắt lửa cháy chậm, tỏa nhiều khói, không gây tiếng nổ, dài 1,53m).
- 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng (là Natri Benzoat, khối lượng là 0,52kg)
- 01 nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng (là Kali Clorat, khối lượng 0,43kg)
- 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu vàng (là Lưu huỳnh, khối lượng 0,27kg).
- 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu xám (là thuốc pháo nổ, khối lượng 0,08kg)
- 01 túi nilon màu vàng, bên trong chứa chất dạng thanh cục màu trắng (là Natri Benzoat, khối lượng là 0,50kg);
Kali Clorat, Natri Benzoat, Lưu huỳnh là những nguyên liệu trực tiếp dùng để sản xuất thuốc pháo nổ.
Ngoài ra, còn thu giữ nhiều đồ vật, dụng cụ khác phục vụ việc chế tạo pháo nổ như: Chiếu, ghế gỗ, màng bọc nilon thức ăn, thước, dao rọc giấy, keo dán, ống nhựa, chậu nhựa, mảnh giấy đỏ...
Tại bản kết luận giám định số 135/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 5 tràng pháo và 15 cuộn giấy khi bị bắt quả tang là pháo nổ, tổng khối lượng là 10,93kg; 6 quả khi khám xét ở căn nhà hoang là pháo nổ, tổng khối lượng là 0,11kg; khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ, các quả pháo được liên kết thành tràng thì nổ liên tiếp, nguồn gốc Việt Nam).
Trong quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đã tiến hành xử L vật chứng bao gồm:
- 8,78Kg pháo của mẫu A0; 0,36Kg chất bột của mẫu A3; 0,25Kg chất bột mẫu A4; 0,17Kg chất bột của mẫu A5; 0,42Kg chất màu bột của mẫu A7 được niêm phong lại trong một hộp giấy. Tiêu hủy bằng hình thức ngâm vào nước nhiều giờ đồng hồ (không còn khả năng tái sử dụng).
- 01 (một) chiếc bao tải dứa màu vàng, in chữ “Ngọc Quyển”, đã cũ; 03 (ba) chiếc túi nilon màu đen, đã bị rách; 02 (hai) chiếc túi nilon màu xanh, đã qua sử dụng; 02 (hai) chiếc túi nilon màu trắng, đã qua sử dụng. Tiêu hủy bằng hình thức đốt cháy.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, máy đứng cảm ứng, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng. Bên trong lắp 01 sim số “0978.308.265”. Trả lại cho gia đình bị can Trần Thế Q.
Tại cáo trạng số 27/CT-VKSQN-P3 ngày 01/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Trần Thế Q về tội “Sản xuất hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn S là bố đẻ của bị cáo Trần Thế Q có lời khai đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn đen, biển kiểm soát 14Y1-362.29. Đây là chiếc xe do vợ chồng ông tiết kiệm tiền mua làm phương tiện đi lại cho gia đình nhưng giấy chứng nhận đăng ký xe ngày 01/12/2022 đứng tên bị cáo Q. Khi bị cáo Q dùng xe để chở pháo nổ thị vợ chồng ông bà không biết và cũng không liên quan đến hành vi của bị cáo Q. Ông Trần Văn S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho gia đình ông được nhận lại xe và giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn đen, biển kiểm soát 14Y1-362.29.
Người chứng kiến là ông Nguyễn Xuân Q và anh Lê Mạnh Ch vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với tài liệu cơ quan điều tra thu thập được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Thế Q về tội “Sản xuất hàng cấm” và đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thế Q từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban Nhân dân phường Đ, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu cói, 01 vật kim loại (gồm ống kim loại hình hộp chữ nhật được hàn một đầu gập, mở với ống kim loại hình tròn), 1 ghế gỗ, 01 thanh gỗ hình hộp chữ nhật, 04 cuộn màng nilon bọc thức ăn, 01 cuộn chi vải lõi bằng nhựa màu xanh, 01 chiếc thước mét cuộn loại 05m, 01 chiếc thước kim loại sáng màu, 02 chiếc dao rọc giấy, 01 lọ keo dán vỏ màu xanh, 01 chiếc rổ kim loại sáng màu, 02 đoạn ống nhựa hình trụ tròn màu xám, 01 đoạn ống nhựa hình trụ tròn màu vàng, 01 đoạn kim loại hình trụ tròn sáng màu, 01 chậu nhựa màu xanh, nhiều mảnh giấy màu đỏ, 01 khay nhựa hình chữ nhật màu xanh.
Trả lại cho ông Trần Văn S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn đen, số khung RLHJA3925NY715677, số máy JA39E2873897, biển kiểm soát 14Y1-362.29 cùng 1 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 140000316 mang tên Trần Thế Q.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thế Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội nên không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm Q, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa về cơ bản giống với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được, vì vậy đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 22/12/2023 đến ngày 29/12/2023, tại căn nhà hoang ở tổ 2, khu N, phường Đ, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Trần Thế Q đã có hành vi sản xuất trái phép 11,04 kg pháo nổ, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số pháo nổ trên và một số vật dụng liên quan đến việc sản xuất pháo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được việc sản xuất pháo nổ là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Bằng hành vi phạm tội của mình, bị cáo Q đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc Q quản L của Nhà nước trong quản L, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, đã xâm phạm đến trật tự quản L kinh tế, làm ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận không tốt trong nhân dân. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Sản xuất hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt:
Hình phạt chính:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng, bị cáo phạm tội lần đầu khi còn trẻ, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, suy nghĩ bồng bột, chưa thấy được hậu quả do hành vi mình đã thực hiện. Bị cáo trước khi phạm tội đang theo học tại khoa Du lịch trường Đại học Hạ Long, quá trình học tập luôn chấp hành tốt mọi nội quy của trường, đồng thời tại nơi cư trú ở tổ 2, khu N, phường Đ, thành phố Uông Bí bị cáo và gia đình luôn chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại địa phương, chính Q địa phương có văn bản đề nghị tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tại địa phương.
Sau khi xem xét hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho địa phương và gia đình giám sát giáo dục cũng đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.
3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 190 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong thời gian từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
- Đối với 8,78Kg pháo của mẫu A0; 0,36Kg chất bột của mẫu A3; 0,25Kg chất bột mẫu A4; 0,17Kg chất bột của mẫu A5; 0,42Kg chất màu bột của mẫu A7 được niêm phong lại trong một hộp giấy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đã tiêu hủy bằng hình thức ngâm vào nước nhiều giờ đồng hồ (không còn khả năng tái sử dụng) nên không đề cập giải quyết.
- Đối với 01 (một) chiếc bao tải dứa màu vàng, in chữ “Ngọc Quyển”, đã cũ; 03 (ba) chiếc túi nilon màu đen, đã bị rách; 02 (hai) chiếc túi nilon màu xanh, đã qua sử dụng; 02 (hai) chiếc túi nilon màu trắng, đã qua sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đã tiêu hủy bằng hình thức đốt cháy nên không đề cập giải quyết.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, máy đứng cảm ứng, vỏ màu vàng, đã qua sử dụng. Bên trong lắp 01 sim số “0978.308.265”. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đã trả lại cho gia đình bị cáo Trần Thế Q quản L nên không đề cập giải quyết.
- Đối với số vật chứng là công cụ, phương tiện không còn giá trị sử dụng bao gồm: 01 chiếu cói, 01 vật kim loại (gồm ống kim loại hình hộp chữ nhật được hàn một đầu gập, mở với ống kim loại hình tròn), 1 ghế gỗ, 01 thanh gỗ hình hộp chữ nhật, 04 cuộn màng nilon bọc thức ăn, 01 cuộn chi vải lõi bằng nhựa màu xanh, 01 chiếc thước mét cuộn loại 05m, 01 chiếc thước kim loại sáng màu, 02 chiếc dao rọc giấy, 01 lọ keo dán vỏ màu xanh, 01 chiếc rổ kim loại sáng màu, 02 đoạn ống nhựa hình trụ tròn màu xám, 01 đoạn ống nhựa hình trụ tròn màu vàng, 01 đoạn kim loại hình trụ tròn sáng màu, 01 chậu nhựa màu xanh, nhiều mảnh giấy màu đỏ, 01 khay nhựa hình chữ nhật màu xanh cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn đen, số khung RLHJA3925NY715677, số máy JA39E2873897, biển kiểm soát 14Y1-362.29 cùng 1 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 140000316 mang tên Trần Thế Q. Xét thấy chiếc xe này là phương tiện đi lại của gia đình ông Trần Văn S, tại phiên tòa bị cáo Q cũng xác nhận đây là chiếc xe mua bằng tiền tiết kiệm của ông S và bà L. Khi bị cáo tự ý dùng xe để chở pháo, ông S và bà L không biết việc này. Vì vậy cần trả lại chiếc xe trên và giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông Trần Văn S và gia đình quản lý theo quy định pháp luật.
Về biện pháp ngăn chặn: Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Quyết định tạm hoãn xuất cảnh và Lệnh cấm đi khỏi nơi cứ trú đối với bị cáo có hiệu lực đến thời điểm mở phiên tòa xét xử là ngày 06/3/2024.
Bị cáo, người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan có Q kháng cáo trong thời hạn luật định.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1,2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Trần Thế Q phạm tội “Sản xuất hàng cấm”.
Xử phạt: Trần Thế Q 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/3/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2 Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếu cói, 01 vật kim loại (gồm ống kim loại hình hộp chữ nhật được hàn một đầu gập, mở với ống kim loại hình tròn), 1 ghế gỗ, 01 thanh gỗ hình hộp chữ nhật, 04 cuộn màng nilon bọc thức ăn, 01 cuộn chi vải lõi bằng nhựa màu xanh, 01 chiếc thước mét cuộn loại 05m, 01 chiếc thước kim loại sáng màu, 02 chiếc dao rọc giấy, 01 lọ keo dán vỏ màu xanh, 01 chiếc rổ kim loại sáng màu, 02 đoạn ống nhựa hình trụ tròn màu xám, 01 đoạn ống nhựa hình trụ tròn màu vàng, 01 đoạn kim loại hình trụ tròn sáng màu, 01 chậu nhựa màu xanh, nhiều mảnh giấy màu đỏ, 01 khay nhựa hình chữ nhật màu xanh.
Trả lại cho ông Trần Văn S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu sơn đen, số khung RLHJA3925NY715677, số máy JA39E2873897, biển kiểm soát 14Y1-362.29 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 140000316 ngày 01/12/2022 mang tên Trần Thế Q.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí và Cơ quan Cảnh sát điều tra
- Công an thành phố Uông Bí)
4. Về án phí:Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thế Q phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
5. Về Q kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Trần Thế Q, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QLVNVLQ - VKSND Tp. Uông Bí; - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Uông Bí; - Chi cục THADS Uông Bí; - Cơ quan THAHS Công an Tp. Uông Bí; - Nhà tạm giữ Công an Tp. Uông Bí; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Anh Đức |