vanban.org

Bản án 18/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai Tuyên án 05/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nay K, Nay L, Ksor Ch, Siu Th, Ksor Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nay K 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nay K và đồng bọn "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nay K, Nay L, Ksor Ch, Siu Th, Ksor Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2023/HSST
Ngày: 05/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- - - - - - -

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Thới

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chế Công Nghị và bà Ksor H’Mloan

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Hoàng – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2023/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXX-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:

Nay K, sinh năm 2004, tại Gia Lai;Trú tại: Thôn T1, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Rmah L, sinh năm 1975 và bà Na, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022 đến nay. Có mặt.

Nay L, sinh năm 2004, tại Gia Lai; Trú tại: Tổ dân phố 12, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Ksor Ch, sinh năm 1966 và bà Nay H, sinh năm 1967; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022 đến nay. Có mặt.

Ksor Ch, sinh năm 2004, tại Gia Lai;Trú tại: Tổ dân phố 12, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Nay K, sinh năm 1983 và bà Ksor H’X, sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022 đến nay. Có mặt.

Siu Th, sinh năm 2003, tại Gia Lai; Trú tại: Tổ dân phố 12, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Ksor Th, sinh năm 1966 và bà Siu H, sinh năm 1965. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022 đến nay, có mặt.

Ksor Đ, sinh năm 2004, tại Gia Lai; Trú tại: Tổ dân phố 12, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Siu S, sinh năm 1976 và bà Ksor H’, sinh năm 1977. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/02/2023 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Ksor Đ: Ông Lưu Đình Quánh, sinh năm 1975 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Nay B, sinh năm 2001

Trú tại: Tổ dân phố 12, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

Rcom Bh, sinh năm 2004

Trú tại: Tổ dân phố 12, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

Nay H’S, sinh năm 1999

Trú tại: Tổ dân phố 12, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt

- Người phiên dịch tiếng Jrai: ông Rcom P – Tổ trưởng tổ dân phố 15, thị trấn P. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 16/11/2022, Nay K, sinh năm 2004 (trú tại Thôn T1, xã I, P, Gia Lai) cùng Nay L, sinh năm 2004, Ksor Ch, sinh năm 2004, Siu Th, sinh năm 2004, Nay B, sinh năm 2001 và Ksor Đ, sinh năm 2004 (cùng trú tại TDP 12, TT P, P, Gia Lai) ngồi uống rượu tại nhà Mí D ở Tổ dân phố 12, TT P, P, Gia Lai. Trong lúc uống rượu, Kuối lên tiếng rủ Luk, Chịu, Thiếu, Binh, Đàn sử dụng ma túy và được cả bọn đồng ý. Do không có tiền nên Kuối đưa chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu trắng của Kuối cho Thiếu nói mang đi cầm cố lấy tiền mua ma túy. Sau đó, Thiếu mang chiếc điện thoại đến tiệm điện thoại “Út Kiên” do Đinh Hùng Kiên làm chủ ở Tổ dân phố 7, TT P, P, Gia Lai cầm được 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) rồi mang về cho Kuối. Có tiền, Luk điều khiển xe mô tô biển số 81D1-129.14 chở Kuối đến quán nhậu ở Tổ dân phố 05, TT P tìm gặp Rcom Bh, sinh năm 2004 (trú tại Tổ dân phố 02, TT P) nhờ Bhim chỉ người bán ma túy nhưng Bhim không biết nên Luk mượn 01 chiếc điện thoại của Bhim. Sau khi mượn điện thoại Bhim, Luk nói Kuối ở lại chờ còn Luk cầm tiền một mình điều khiển xe đi tìm mua ma túy. Sau khi dò hỏi bạn bè được người có Nick zalo “Phước Đinh”, Luk lấy điện thoại gọi vào Nick zalo “Phước Đinh” hỏi mua ma túy đá giá 500.000đ. Thỏa thuận xong, Luk đến đoạn đường Quốc lộ 25 thuộc Thôn Plei Tel, xã Ia Sol, P, Gia Lai gặp một người nam thanh niên (không rõ lai lịch) nhận 01 gói ma túy (dạng ống nhựa).

Khoảng 22h00’ cùng ngày, Luk chở Kuối quay lại nhà Mí D để gặp Thiếu, Binh, Đàn và Chịu. Lúc này, Luk rủ cả bọn ra khu vực nhà mả ở Tổ dân phố 12, TT P sử dụng ma túy, đồng thời Luk nói Chịu về nhà lấy dụng cụ sử dụng ma túy và được cả bọn đồng ý. Đến nơi, Luk lấy dụng cụ sử dụng ma túy là 01 cóng thủy tinh gắn nắp chai nhựa (do Chịu mang đến), sau đó dùng dao lam cắt gói nhựa bên trong chứa ma túy và cắt một đoạn ống nhựa khác xúc ma túy đổ vào cóng thủy tinh. Luk sử dụng quẹt gas khò vào cóng thủy tinh để hút trước, sau đó lần lượt những người còn lại gồm Kuối, Chịu, Thiếu, Binh và Đàn cùng nhau sử dụng ma túy. Cả bọn sử dụng ma túy đến khoảng 00h00’ ngày 17/11/2022 thì hết ma túy. Lúc này, Luk lấy điện thoại gọi cho nam thanh niên đã bán ma túy cho Luk trước đó hỏi mua ma túy đá nợ và được nam thanh niên đồng ý. Vì không dám đi một mình nên Luk rủ Đàn cùng đi mua ma túy, còn những người khác ở lại chờ lấy ma túy về sử dụng. Luk điều khiển xe mô tô biển số 81D1-129.14 chở Đàn đến đoạn đường Quốc lộ 25 Thôn Plei Tel, xã Ia Sol, P, Gia Lai, Luk dừng xe bên đường. Luk và Đàn ngồi trên xe chờ thì có 01 nam thanh niên đi đến giao cho Luk 01 gói ma túy (dạng ống nhựa), Luk cất gói ma túy trong túi quần rồi cùng Đàn quay lại khu nhà mả tiếp tục cùng Kuối, Binh, Thiếu và Chịu sử dụng ma túy. Đến khoảng 01h00’ cùng ngày, thì cả bọn nghỉ, vất tại hiện trường 01 vỏ chai nhựa, 01 dao lam, 01 quẹt gas, Chịu cầm 01 ống cóng thủy tinh và 01 nắp chai nhựa có khoét 02 lỗ về nhà cất giấu.

Đến 09h00’ cùng ngày, Nay K đến UBND xã I, P, Gia Lai để khám sức khỏe xét tuyển nghĩa vụ quân sự. Quá trình test nhanh phát hiện Kuối dương tính với chất ma túy nên tiến hành lập biên bản. Qua làm việc với Hội đồng khám nghĩa vụ quân sự, Kuối khai nhận trước đó vào đêm ngày 16/11/2022 có sử dụng ma túy đá. Công an xã I tiến hành xác minh và chuyển nguồn tin đến Cơ quan CSĐT Công an huyện P.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành điều tra xác minh, lấy lời khai Nay L, Ksor Ch, Siu Th. Cả Luk, Chịu và Thiếu đều khai nhận hành vi tổ chức sử dụng ma túy cùng với Nay K vào đêm ngày 16 đến rạng sáng ngày 17/11/2022. Riêng Ksor Đ và Nay B, không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra không làm việc được. Tiến hành test ma túy tại Trung tâm Y tế huyện P, Nay L, Ksor Ch, Siu Th đều dương tính với ma túy.

Sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải phát hiện, thu giữ tại nơi ở của Ksor Ch 01 ống cóng thủy tinh có một đầu uốn cong bên trong có bám dính chất màu xám đen (nghi ma túy) và 01 nắp chai nhựa có khoét 02 lỗ. Xác minh hiện trường nơi sử dụng ma túy thu giữ được 01 vỏ chai nhựa, 01 dao lam, 01 quẹt gas và 03 phần vỏ (dạng ống) nhựa bên trong còn bám dính chất màu trắng (nghi ma túy).

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nay K, Nay L, Ksor Ch và Siu Th nhưng không phát hiện được vật chứng gì có liên quan.

Cơ quan điều tra tiến hành niêm phong 01 ống cóng thủy tinh thu giữ tại nơi ở của Ksor Ch, ký hiệu “M1” và niêm phong 03 phần vỏ nhựa thu giữ tại hiện trường ký hiệu “M2” chuyển đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, để trưng cầu giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 803 ngày 23/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận:

- Chất màu xám đen bám dính trong 01 ống thủy tinh có đầu uốn cong, phình to (hình cầu) trong bì thư ghi “M1” niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng.

- Chất màu trắng bám dính trong 03 đoạn ống nhựa (02 ống màu trắng và 01 ống màu vàng) trong bì thư ghi “M2” niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng.

Qua chứng cứ thu thập được, ngày 25/11/2022, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nay K, Nay L, Ksor Ch và Siu Th về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Ksor Đ. Bản thân Ksor Đ khai nhận: Đêm ngày 16/11/2022, Đàn được Nay K cung cấp ma túy để sử dụng cùng với Kuối, Nay L, Ksor Ch, Siu Th và Nay B. Khoảng 00h00’ ngày 17/11/2022 thì hết ma túy, Luk rủ Đàn cùng đi lấy ma túy về cho cả bọn sử dụng tiếp và được Đàn đồng ý. Luk điều khiển xe mô tô chở Đàn đến đoạn đường Quốc lộ 25 Thôn Plei Tel, xã Ia Sol, P, Gia Lai thì có 01 nam thanh niên đi đến giao cho Luk 01 gói ma túy, Luk cất gói ma túy trong túi quần rồi cùng Đàn quay lại khu nhà mả tiếp tục cùng Kuối, Binh, Thiếu và Chịu sử dụng ma túy.

Quá trình điều tra, xét thấy có đủ cơ sở xác định Ksor Đ có hành vi giúp sức cho Nay L cung cấp ma túy cho Nay K, Nay B, Siu Th và Ksor Ch sử dụng. Ngày 06/02/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Ksor Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Nay L trong đêm ngày 16/11/2022 và rạng sáng ngày 17/11/2022. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Đối với Rcom Bh, là người cho Nay L mượn điện thoại. Tuy nhiên, Bhim không biết Luk sử dụng chiếc điện thoại trên liên hệ mua ma túy về sử dụng.

Đối với Nay B, chỉ tham gia cùng Nay K, Nay B, Siu Th, Ksor Ch và Ksor Đ sử dụng trái phép chất ma túy. Nay B không tham gia xúi dục, giúp sức và không trực tiếp cung cấp ma túy, dụng cụ, địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy trong vụ án. Cơ quan điều tra đã chuyển xử lý hành chính theo quy định.

Đối với xe mô tô biển số 81D1-129.14, là phương tiện Nay L sử dụng làm phương tiện mua ma túy về sử dụng. Xe thuộc sở hữu của Nay H’S (chị gái Nay L) nhưng H’Sinh không biết Luk sử dụng xe vào việc phạm tội.

* Về vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã tạm giữ các vật chứng, gồm: 01 ống cóng thủy tinh có một đầu uốn cong; 01 nắp chai nhựa màu xanh có khoét 02 lỗ; 03 ống nhựa; 01 dao lam; 01 quẹt gas; 01 Điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu trắng (IMELI 1: 863898037505693, IMELI 2: 8638980375056985) của Nay K.

Các vật chứng hiện đang bị tạm giữ.

Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 18/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Nay K, Siu Th, Ksor Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Nay L, Ksor Ch về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nay K, Nay L, Ksor Ch, Siu Th, Ksor Đ. Áp dụng thêm điểm a khoản 2 Điều 255 BLHS đối với bị cáo Nay L, Ksor Ch. Áp dụng thêm Điều 54 đối với bị cáo Ksor Đ. Xử phạt bị cáo:

Nay K và Nay L mỗi bị cáo: Từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Ksor Ch và Siu Th mỗi bị cáo: Từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Ksor Đ: Từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

-Người bào chữa cho bị cáo Ksor Đ nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Ksor Đ do bị cáo Ksor Đ vì bị cáo giữ vai trò thứ yếu trong vụ án và có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, thống nhất với Bản cáo trạng của Viện kiểm sát và khai nhận hành vi phạm tội, lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hành phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện P, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám xét của các bị cáo, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 16/11/2022, trong lúc ngồi uống rượu tại nhà Mí D ở tổ dân phố 12, thị trấn P, huyện P. Nay K đã lên tiếng rủ Nay L, Ksor Ch, Ksor Thiếu, Ksor Đ và Nay B sử dụng ma túy thì được cả bọn đồng ý. Nay K có hành vi đưa điện thoại cho Siu Th đi cầm cố được 500 ngàn đồng để mua ma túy cho cả bọn sử dụng, Nay L có hành vi mượn điện thoại của anh Rcom Bh để trực tiếp liên hệ với người có nick zalo “Phước Đinh” để mua được 01 gói ma túy dạng ống nhựa, Ksor Ch chuẩn bị dụng cụ, phương tiện là 01 cóng thủy tinh gắn nắp chai nhựa để cả bọn đưa chất ma túy vào cơ thể. Sau đó cả bọn hẹn nhau đến khu vực nhà mả ở Tổ dân phố 12, thị trấn P để sử dụng ma túy. Nay L đã có hành vi “nấu” ma túy cho cả bọn lần lượt đưa chất ma túy vào cơ thể. Đến 00h ngày 17/11/2023 thì hết ma túy, tiếp đó Nay L đã trực tiếp liên hệ để mua nợ ma túy và cùng Ksor Đ đi lấy tiếp ma túy, sau khi mua được ma túy Luk và Đàn quay lại địa điểm mà Nay K, Ksor Chịu, SiuThiếu, Nay B đang chờ để cả bọn tiếp tục sử dụng ma túy. Đến 01 h 00 phút ngày 17/11/2023 thì cả bọn nghỉ.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Nay K, Nay L, Ksor Ch, Siu Th, Ksor Đ theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan. Đối với Nay L, Ksor Ch bị truy tố thêm điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng: Ksor Ch đã có hành vi chuẩn bị dụng, phương tiện để cả bọn đưa chất ma túy vào cơ thể, việc chuẩn bị công cụ là một lần, quá trình sử dụng ma túy lần thứ hai là nối tiếp nhau về mặt thời gian nên không có cơ sở để truy tố bị cáo “phạm tội 02 lần trở lên”. Đối vơi Nay L, khi cả bọn sử dụng hết ma túy thì tiếp tục liên hệ và trực tiếp đi mua chịu ma túy rồi quay lại địa điểm cả bọn đang chờ để tiếp tục sử dụng, xét hành vi tiếp tục cung cấp ma túy của Nay L là liên tiếp nhau nên được xác định hành vi tổ chức của bị cáo là tích cực hơn các bị cáo khác để phân hóa tội phạm, hành vi cung cấp ma túy là diễn ra liên tiếp trong cùng một lần tổ chức sử dụng chất ma túy. Do vậy, Viện kiểm sát truy tố Ksor Ch và Nay L “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm a khoản 2 Điều 255 BLHS là không phù hợp, nên không được chấp nhận. Tuy nhiên vẫn xét xử các bị cáo theo khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự trên cơ sở xem xét đánh giá, tính chất, mức độ của từng bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp.

Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy rằng:

Đối với bị cáo Nay K là người khởi xướng, rủ rê cả bọn sử dụng ma túy, đồng thời là người đưa điện thoại cho Siu Th đi cầm cố được 500 ngàn đồng, số tiền này dùng để đi mua ma túy cho cả bọn sử dụng. Bị cáo cũng tích cực cùng với Nay L đi tìm người để mua ma túy. Do vậy, bị cáo Nay K giữ vai trò chính mang tính quyết định trong vụ án nên cần áp dụng mức hình phạt nặng hơn các bị cáo khác.

Đối với Nay L là người trực tiếp đi mua ma túy cho cả bọn sử dụng, Nay L cũng là người thực hiện tội phạm rất tích cực, rủ cả bọn ra khu nhà mả để cùng nhau sử dụng chất ma túy, bị cáo Nay L cũng là người khò “nấu” ma túy để các bị cáo khác đưa chất ma túy vào cơ thể. Khi cả bọn sử dụng hết ma túy, bị cáo lại tiếp tục trực tiếp liên hệ và đi mua nợ ma túy về cho cả bọn sử dụng tiếp. Do vậy bị cáo là người thực hiện tội phạm tích cực nhất trong số các bị cáo, nên cần áp dụng hình phạt cao hơn các bị cáo Chịu, Thiếu, Đàn và bằng với bị cáo Nay K là phù hợp.

Đối với bị cáo Siu Th: Khi được Nay K lên tiếng rủ sử dụng ma túy đã đồng ý ngay, bị cáo là người trực tiếp nhận chiếc điện thoại Oppo A37 của Nay K đem đi cầm cố được 500 ngàn đồng, khi mua được ma túy bị cáo đồng thuận sử dụng ma túy cùng các bị cáo khác chứng tỏ bị có ý thức chuẩn bị việc cung cấp ma túy để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm tổ chức cho các bị cáo khác sử dụng ma túy.

Đối với Ksor Ch: Khi được Nay K rủ sử dụng ma túy bị cáo cũng đồng ý ngay. Bị cáo là người chuẩn bị công cụ, phương tiện là 01 cóng thủy tinh gắn nắp chai nhựa để cả bọn sử dụng ma túy, vì vậy bị cáo phải trách trách nhiệm với vai trò đồng phạm và tương đồng với bị cáo Siu Th là phù hợp.

Đối với Ksor Đ: Bị cáo cùng tham gia sử dụng ma túy cùng đồng bọn ngay từ đầu, bị cáo đồng ý để Nay L chở đi để tiếp tục mua ma túy về để cùng với các bị cáo khác sử dụng, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm với vài trò đồng phạm trong vụ án. Tuy nhiên, bị cáo không có hành vi góp tiền, không trực tiếp liên hệ mua ma túy nên bị cáo giữ vai trò là thứ yếu, không mang tính quyết định trong vụ án.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là rất nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn. Hành vi của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bởi ma túy là hiểm họa của xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm loại trừ nhưng tình hình mua bán, vận chuyển, tàng trữ, tổ chức sử dụng ma túy vẫn diễn ra phức tạp. Do đó cần xét xử kịp thời và áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về năng lực trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, phòng ngừa tội phạm, để các bị cáo cải tạo thành những công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ngoài tình tiết tăng nặng định khung, ngoài ra các bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.

Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Ksor Đ là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có xác nhận của Chính quyền địa phương, nên cần xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, căn cứ vào vai trò đồng phạm, tính chất mức độ hành vi, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của từng bị cáo, cần cá thể hóa mức hình phạt đối với từng bị cáo, cụ thể: Nay K, Nay L giữ vai trò chính nên cần xử phạt nặng hơn các bị cáo khác và cùng mức hình phạt là phù hợp; Ksor Ch, Siu Th giữ vai trò đồng phạm với mức độ nhẹ hơn Nay K và Nay L nên hình phạt nhẹ hơn và cùng mức hình phạt. Đối với Ksor Đ là đồng phạm giữ vai trò thứ yếu nên có căn cứ áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới khung là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Các bị cáo đều không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với tất cả các bị cáo.

Đối với hành vi của Nay B, chỉ tham gia cùng Nay K, Nay B, Siu Th, Ksor Ch và Ksor Đ sử dụng trái phép chất ma túy. Nay B không tham gia xúi dục, giúp sức và không trực tiếp cung cấp ma túy, dụng cụ, địa điểm sử dụng trái phép chất ma túy trong vụ án nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã chuyển xử lý hành chính là đúng quy định.

Đối với Rcom Bh, là người cho Nay L mượn điện thoại. Tuy nhiên, Bhim không biết Luk sử dụng chiếc điện thoại trên liên hệ mua ma túy về sử dụng nên không có cơ sở để xử lý đối với Rcom Bh.

Về vật chứng:

Đối với xe mô tô biển số 81D1-129.14, là phương tiện Nay L sử dụng làm phương tiện mua ma túy về sử dụng. Xe thuộc sở hữu của Nay H’S (chị gái Nay L) nhưng H’Sinh không biết Luk sử dụng xe vào việc phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật.

-01 ống cóng thủy tinh có một đầu uốn cong; 01 nắp chai nhựa màu xanh có khoét 02 lỗ; 03 ống nhựa; 01 dao lam; 01 quẹt gas, xét đây là phương tiện công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy,

01 Điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu trắng (IMELI 1: 863898037505693, IMELI 2: 8638980375056985) của Nay K dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Các bị cáo Nay K, Nay L, Ksor Ch, Siu Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Ksor Đ là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nay K, Nay L, Ksor Ch, Siu Th, Ksor Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nay K, Nay L, Ksor Ch, Siu Th.

Xử phạt bị cáo Nay K 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022

Xử phạt bị cáo Nay L 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022

Xử phạt bị cáo Ksor Ch 07 năm 03 tháng tù. thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022

Xử phạt bị cáo Ksor Thiếu 07 năm 03 tháng tù. thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ksor Đ.

Xử phạt bị cáo Ksor Đ 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2023

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tich thu tiêu hủy: 01 ống cóng thủy tinh có một đầu uốn cong; 01 nắp chai nhựa màu xanh có khoét 02 lỗ; 03 ống nhựa; 01 dao lam; 01 quẹt gas.

-Hóa giá sung công quỹ Nhà nước: 01 Điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu trắng (IMELI 1: 863898037505693, IMELI 2: 8638980375056985)

Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Gia Lai lập ngày 03/7/2023.

4. Về án phí:

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc các bị cáo Nay K, Nay L, Ksor Ch, Siu Th mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Ksor Đ.

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/7/2023, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản có có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Tòa án ND tỉnh;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND H. P; -Công an huyện P; -Chi cục THADS (khi án có hiệu lực PL)

(Đã ký) -Bị cáo; -Người bào chữa; -Người có QLNV liên quan; -Lưu hồ sơ vụ án, AV.

Phạm Bá Thới

Cỡ chữ