vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 06/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị Lương Thanh P phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS- Xử phạt: Bị cáo Lương Thanh P 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị Lương Thanh P phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày 06- 6 -2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khải;

Ông Hồ Quang Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Bun – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Hồng Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Thanh P, sinh năm 1997, tại tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn Đ, sinh năm 1967 và bà Võ Thị T, sinh năm 1968; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Được áp dụng biện pháp bảo lãnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại – Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lương Văn Đ – có mặt.

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Anh Quý N – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân trong dịp tết nguyên đán Nhâm Dần 2022, Lương Thanh P đã tìm cách mua pháo nổ về bán lại nhằm mục đích kiếm lời. Ngày 28/12/2021, P lên mạng xã hội Facebook và thỏa thuận mua của một 01 người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) 12 hộp pháo nổ loại 49 ống/01 hộp với giá 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng). Do hẹn từ trước nên khoảng 15 giờ ngày 29/12/2021, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu sơn bạc – đen, biển kiểm soát 48C1 – 083.43 của ông Lương Văn Đ - bố của P) từ xã Đ ra ngã ba Cư J (thị trấn E, huyện Cư J, tỉnh Đắk Nông) để lấy pháo nổ. Khi đến nơi, P gặp một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) lấy 01 thùng giấy bên trong có chứa pháo nổ và đưa cho người đàn ông số tiền 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau đó, P chở thùng pháo nổ về nhà của ông Đ tại Thôn H, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông (P đang ở cùng nhà với bố mẹ) và kiểm tra thì thấy bên trong thùng giấy chỉ có 11 hộp pháo nổ loại 49 ống/ 01 hộp, P mang toàn bộ số pháo nổ cất giấu phía sau vườn nhà mình.

Đến khoảng 16 giờ ngày 29/12/2021, Quý N gọi điện cho P qua ứng dụng Facebook để hỏi mua pháo nổ thì được P đồng ý và hẹn lên nhà lấy (do trước đây N đã mua pháo nổ của P). Sau đó, N đến nhà P, P ra chỗ cất giấu và lấy 01 hộp pháo nổ bán cho N với giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được pháo của P thì N được một người đàn ông tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) liên hệ hỏi mua nên N đồng ý bán để kiếm lời, lúc này N tiếp tục liên hệ với P để mua thêm 01 hộp pháo nổ thì được P đồng ý bán và P sẽ mang xuống nhà N. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N đang đi giao pháo nổ cho ông T1 tại khu vực Thôn T, xã Đ, huyện K thì bị công an huyện Krông Nô phát hiện, bắt giữ. Cũng khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, P đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48C1 – 083.43 mang 01 hộp pháo nổ đi giao cho N tại khu vực Thôn T, xã Đ, huyện K thì bị công an huyện Krông Nô phát hiện, truy đổi, nên P bỏ chạy và bỏ lại 01 hộp pháo nổ cùng 01 xe mô tô.

Thực hiện Quyết định khám xét tại nhà của ông Lương Văn Đ đã phát hiện và thu giữ 01 thùng giấy bên trong có 09 hộp pháo nổ loại 49 ống/01 hộp tại khu vực gốc tiêu trong vườn vị trí giáp ranh giữa nhà ông Lương Văn Đ và ông Phạm Văn T2 (giữa hai nhà không có hàng rào ngăn cách).

11 hộp pháo nổ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Nô đã thu giữ trong quá trình bắt giữ và khám xét có khối lượng 17,9 kilôgam. Đồng thời, niêm phong 02 hộp pháo nổ để phục vụ công tác giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 628/C09B ngày 12/01/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ công an tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tất cả mẫu vật gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Mẫu vật đã được sử dụng hết trong quá trình giám định.

Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 06/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô truy tố bị cáo Lương Thanh P về tội “”Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện VKSND huyện Krông Nô giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lương Thanh P về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của BLHS. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo Lương Thanh P từ 02 năm đến 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS-Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 98 ngày 25/01/2022 của cơ quan cảnh sát điều tra - công an huyện Krông Nô tiêu hủy đối với 01 (một) thùng giấy đã được niêm phong, bên trong có 09 (chín) vật hình hộp chữ nhật dán bên ngoài bằng giấy nhiều màu sắc và có dòng chữ nước ngoài (theo kết luận giám định là pháo nổ).

Áp dụng khoản 3 Điều 106 BLTTHS - chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 83 ngày 20/01/2022 của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Nô về việc trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại sirius, màu sơn bạc – đen, biển kiểm soát 48C1 – 083.43 (đã qua sử dụng) cho người quản lý hợp pháp là ông Lương Văn Đ.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Truy thu sung quỹ nhà nước đối với Lương Thanh P số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).

Đối với 02 vật hình hộp chữ nhật bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc và có các dòng chữ tiếng nước ngoài (được niêm phong trong 02 hộp giấy khác nhau) gửi đi giám định, đã được sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Thanh P đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, thể hiện: Ngày 28/12/2021 Lương Thanh P đã mua của 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) 11 hộp pháo nổ loại 49 ống/01 hộp với giá 9.600.000đ (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng) về bán lại mục đích để kiếm lời. Ngày 29/12/2022, Bị cáo bán 01 hộp pháo nổ cho anh Quý N với giá 1.200.000 đồng, sau đó trên đường giao hộp pháo thứ hai cho N thì bị cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Nô phát hiện và thu giữ. Khám xét chỗ ở của Lương Thanh P tại Thôn H, xã Đ, huyện K cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Nô phát hiện và thu giữ 09 hộp pháo nổ do P cất giấu. Tổng trọng lượng 11 hộp pháo nổ đã thu giữ của P là 17,9 kilôgam. Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Thanh P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 190 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ....

c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

Xét hành vi của bị cáo đã thực hiện xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, buôn bán hàng cấm trong phạm vi lãnh thổ của nước Việt Nam, cụ thể Pháo nổ là hàng hóa nhà nước cấm kinh doanh; gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ hành vi buôn bán pháp nổ bị nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần áp dụng đối với các bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú tại Cơ quan công an. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật tại nơi cư trú; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự gì; bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS; 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS; không có tình tiết tăng nặng. HĐXX xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo tự học tập, cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Về biện pháp tư pháp:

Đối với việc Cơ quan CSĐT tiêu hủy 01 thùng giấy bên trong có 09 hộp pháo nổ là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Đối với chiếc xe loại sirius, màu sơn bạc – đen, biển kiểm soát 48C1 – 083.43 mà Lương Thanh P dùng làm phương tiện đi bán pháo. Xét thấy chiếc xe trên thuộc sở hữu hợp pháp của ông Lương Văn Đ. Việc P sử dụng xe vào việc phạm tội ông Lương Văn Đ không biết và cũng không đồng ý. Do đó, Cơ quan CSĐT công an huyện Krông Nô trả lại chiếc xe này cho ông Đ là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Đối với số tiền 1200.000đ P thu lợi bất chính do bán pháo nổ nên cần truy thu sung Quỹ nhà nước.

Đối với 02 vật hình hộp chữ nhật bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc và có các dòng chữ tiếng nước ngoài (được niêm phong trong 02 hộp giấy khác nhau) gửi đi giám định, đã được sử dụng hết trong quá trình giám định nên không đề cập xử lý.

Đối với hành vi mua pháo nổ của anh Quý N chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan CSĐT công an huyện Krông Nô ra quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi này là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Lương Thanh P đang sống với bố mẹ. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương bị cáo không có tài sản riêng gì nên HĐXX không có cơ sở áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lương Thanh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị Lương Thanh P phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS-

Xử phạt: Bị cáo Lương Thanh P 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/6/2022.

Giao bị cáo Lương Thanh P cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lương Thanh P cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 98 ngày 25/01/2022 của Cơ quan CSĐT về việc tiêu hủy 01 thùng giấy bên trong có 09 hộp pháo nổ.

Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 83 ngày 20/01/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Krông Nô về việc trả lại chiếc xe biển kiểm soát 48C1 – 083.43 cho ông Lương Văn Đ.

Truy thu sung Quỹ nhà nước số tiền 1200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) mà bị cáo P thu lợi bất chính.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị Lương Thanh P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ