vanban.org

Bản án 18/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu T đối với ông Đặng Hoàng T1.

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đặng Hoàng T1. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Nguyễn Bảo H, sinh ngày 19/12/2017; Giới tính: Nữ. Ông Đặng Hoàng T1 không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà Thảo không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Thu T ly hôn ông Đặng Hoàng T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu T đối với ông Đặng Hoàng T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 22-4-2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA, TỈNH LONG AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

2. Ông Lê Hồng Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 164/2020/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Số 06, Thôn 01, xã HT, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Ông Đặng Hoàng T1, sinh năm 1992.

Hộ khẩu thường trú: Số 209A, ấp V, xã TA, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Nơi cư trú hiện nay: Đang chấp hành hình phạt tù tại Phân trại số 1, Trại giam T, thuộc Ấp 3, xã T, huyện TH, tỉnh Long An.

(Bà T có mặt, ông T1 có đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T yêu cầu khởi kiện: Bà T và ông Đặng Hoàng T1 tự tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HT, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk năm 2017. Quá trình vợ chồng bà T chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T1 sinh tật cờ bạc, không lo làm ăn, phá tán tài sản và gây ra nhiều nợ, bỏ mặc vợ con không quan tâm chăm sóc. Khi bà T phát hiện đã nhiều lần khuyên ngăn, đứng ra trả nợ cho ông T1 hết lần này đến lần khác nhưng ông T1 không những không sửa đổi mà ngày càng tệ hơn nên vào năm 2019, ông T1 phạm tội trộm cắp tài sản bị bắt giam vào ngày 05/4/2019 và bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An xử phạt 04 năm 06 tháng tù. Bà T và ông T1 ly thân nhau từ tháng 04/2019 đến nay. Hiện tại, ông T1 đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam T.

Nay bà T thấy rằng, tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T yêu cầu được ly hôn với ông Đặng Hoàng T1.

- Về con chung: Bà T và ông T1 chung sống có 01 con chung tên Đặng Nguyễn Bảo H, sinh ngày 19/12/2017; Giới tính: Nữ. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay con chung do bà T nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng.

- Về chia tài sản chung: Bà T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà T cam kết không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đặng Hoàng T1 có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T như sau: Ông T1 thống nhất với bà T về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian ly thân như bà T đã trình bày.

Nay bà T yêu cầu ly hôn ông T1 đồng ý. Khi ly hôn, ông T1 đồng ý giao con chung tên Đặng Nguyễn Bảo H, sinh ngày 19/12/2017; Giới tính: Nữ cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 không cấp dưỡng nuôi con.

Các tài liệu, chứng cứ của vụ án:

Chứng cứ do bà Nguyễn Thị Thu T cung cấp: Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đặng Hoàng T1 (bản chính); Giấy khai sinh cháu Đặng Nguyễn Bảo H (bản sao); Sổ thăm gặp phạm nhân và gửi tiền lưu ký (bản phô tô).

Chứng cứ do ông Thành cung cấp: Không có.

Chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản lấy lời khai của ông Đặng Hoàng T1 ngày 06/4/2021.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông T1. Ngày 06/4/2021, ông T1 có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà T và có đơn đề nghị được vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như các phiên tòa với lý do ông đang phải chấp hành án trong trại giam. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến đối với vụ án như sau:

Về hoạt động tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án đã xác định đúng tư cách đương sự tham gia tố tụng, quan hệ tranh chấp, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát và đưa vụ án ra xét xử đúng quy định pháp luật.

Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định về của pháp luật khi tham gia tố tụng, nên Kiểm sát viên không có đề nghị hay kiến nghị gì.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa cho thấy: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đặng Hoàng T1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn năm 2017. Quá trình chung sống giữa bà T và ông T1 hạnh phúc được thời gian ngắn đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T1 ham mê cờ bạc, nhậu nhẹt, không lo làm ăn, bà T và gia đình đã nhiều lần khuyên ngăn và tạo điều kiện để ông T1 sửa đổi nhưng ông T1 không những không sửa đổi mà còn phạm pháp. Ông T1 bị bắt giam về hành vi trộm cắp tài sản từ tháng 4/2019 nên bà T và ông T1 ly thân nhau từ đó đến nay.

Nay bà T và ông T1 tự thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, bà T1 yêu cầu ly hôn, ông T1 đồng ý. Về tài sản chung, nợ chung bà T và ông T1 đều thống nhất không có tài sản chung và cam kết không có nợ chung nên không có yêu cầu hay tranh chấp gì.

Về con chung: Khi ly hôn, bà T và ông T1 thống nhất giao con chung tên Đặng Nguyễn Bảo H cho bà Thảo trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, cháu H có giới tính là nữ, từ khi ông T1 và bà T ly thân cho đến nay con chung đều do bà T nuôi dưỡng. Quá trình bà T nuôi cháu H được đảm bảo quyền lợi về mọi mặt. Hiện nay, ông đang chấp hành án trong trại giam nên không có đủ điều kiện để nuôi con. Việc thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con của bà T và ông T1 về người trực tiếp nuôi con là tự nguyện, đảm bảo quyền lợi của cháu H về mọi mặt sức khỏe, giới tính, tâm sinh lý, ổn định chỗ ở, học hành và phù hợp với nguyện vọng của các đương sự khi ly hôn nên việc quyết định giao con chung cho bà T nuôi là hợp lý.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 55, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con đối với ông T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đặng Hoàng T1 tự tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HT, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk, nên hôn nhân là hợp pháp theo quy định tại khoản 5 Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông T1 hiện tại đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam T thuộc huyện TH, tỉnh Long An nên theo quy định tại Điều 12 Luật cư trú thì ông T1 đang cư trú tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông T1, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đối với ông T1: Do ông T1 có đề nghị được xét xử vắng mặt nên Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T1.

Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T:

Xét nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn: Qua lời khai của bà T và ông T1 trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa thể hiện do ông T1 không lo làm ăn, sa vào tệ nạn cờ bạc, phá tán tài sản gây ra nhiều khoản nợ, bà T đã nhiều lần khuyên ngăn và đứng ra trả nợ thay, bà T cho ông T1 cơ hội sửa đổi nhưng ông T1 không những không sửa đổi mà còn phạm tội bị bắt giam và phải đi chấp hành hình phạt tù nên vợ chồng phải ly thân nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng đã lạnh nhạt, bà T và ông T1 không còn thương yêu, quan tâm chăm sóc nhau nữa. Bà T thấy rằng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn, ông T1 đồng ý. Bà T và ông T1 tự nguyện thuận tình ly hôn, đồng thời thống thất trong quá trình vợ chồng không có tài sản chung hay nợ chung nên không có tranh chấp. Việc thuận tình ly hôn phù hợp theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình. Trong quá trình chung sống, ông T1 không lo làm ăn, sa vào tệ nạn cờ bạc, dẫn đến phá tán tài sản gây ra nhiều khoản nợ dẫn đến phạm tội bị bắt giam và phải đi chấp hành hình phạt tù, bỏ mặc vợ con không quan tâm, giúp đỡ là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Do vậy, yêu cầu ly hôn của bà T1 là có căn cứ để chấp nhận.

Về con chung: Bà T và ông T1 chung sống có 01 con chung tên Đặng Nguyễn Bảo Hân, sinh ngày 19/12/2017; Giới tính: Nữ. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay con chung do bà T nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà T và ông T1 thống nhất giao con chung tên Đặng Nguyễn Bảo H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Thấy rằng, cháu H có giới tính là nữ, từ khi ông T1 và bà T ly thân cho đến nay con chung đều do bà T nuôi dưỡng. Quá trình bà T nuôi dưỡng, cháu H được đảm bảo quyền lợi về mọi mặt. Hiện nay, ông đang chấp hành án trong trại giam nên không có đủ điều kiện để nuôi con. Việc thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con của bà T và ông T1 là tự nguyện, đảm bảo quyền lợi của cháu H về mọi mặt sức khỏe, giới tính, tâm sinh lý, ổn định chỗ ở, học hành và phù hợp với nguyện vọng của các đương sự khi ly hôn. Do đó, việc quyết định giao con chung là cháu Đặng Nguyễn Bảo H cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không yêu cầu ông T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà T và ông T1 thống nhất xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà T và ông T1 cam kết không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết.

Qua quá trình nhận định, đánh giá chứng kết hợp với lời khai của đương sự, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa. Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa là có căn cứ để chấp.

Về án phí: Theo quy định của Luật phí, lệ phí và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Thảo phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 55, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 20 Luật phí, lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu T đối với ông Đặng Hoàng T1.

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đặng Hoàng T1.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Nguyễn Bảo H, sinh ngày 19/12/2017; Giới tính: Nữ. Ông Đặng Hoàng T1 không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà Thảo không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước. Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà T đã nộp theo biên lai thu số 0003457 ngày 05/10/2020 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa sang án phí để thi hành (Bà T đã nộp đủ án phí).

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bà Nguyễn Thị Thu T có mặt có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Đặng Hoàng T1 vắng mặt có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Long An giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

5. Công tác thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ