- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Chí Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật hình sự Xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:18/2020/HSST Ngày: 15-6-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Nhị;
2. Ông Cao Văn Lô
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2020/HSST ngày 12-5-2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST-HS ngày 02-6-2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Chí Đ, (tên gọi khác: Không có); sinh năm 1989; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Thợ hàn; Cha: Nguyễn Văn Viễn; Mẹ: Đặng Thị Xuân Hồng; Có 03 anh chị: Lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1984.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 30/01/2020, bị Công an thị trấn Thủ Thừa xử phạt 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị tạm giam từ ngày 24/02/2020 cho đến nay. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1993; Nơi cư trú: Số 08, Hẻm 04, khu 1 Ô 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt);
2. Anh Dƣơng Gia T, sinh năm: 1992; Nơi cư trú: Số 14, Phạm Ngọc Thuần, Khu phố 2, Phường 2, thị xã T, tỉnh Long An. (Vắng mặt);
3. Chị Huỳnh Thị Thu H, sinh năm: 1973; Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện H, tỉnh Long An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Chí Đ là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 01/02/2020, Đ tham gia uống bia với bạn tại Hội chợ ở khu phố Cầu Xây, thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa. Sau đó, Đ đi bộ đến cổng văn hóa khu phố Cầu Xây gặp một người đàn ông không rõ nhân thân mua 01 tép ma túy đá với giá 200.000đ để sử dụng. Số ma túy được đựng trong túi nilon trong suốt, hàn kín (rảnh khép), kích thước 05cm x 07cm. Sau khi mua ma túy, Đ yêu cầu người bán cho Đ một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Người bán ma túy cho Đ 01 túi nilon màu trắng có 02 quai xách, bên trong có chứa dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 ống nỏ, ống nhựa, kéo, bật lửa và bình gas. Đ bỏ tép ma túy đá vào túi nilon chung với bộ dụng cụ sử dụng cầm trên tay, đi bộ đến khu vực Bưu điện Thủ Thừa gặp Nguyễn Hữu T hỏi mượn xe mô tô. Thông đồng ý và đưa xe mô tô 62U1 – 069.14 cho Đ mượn. Đ treo túi nilon có chứa tép ma túy vào móc treo đồ của xe. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe đến nhà nghỉ Tigon ở Khu phố 1, thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa. Đ đậu xe ở bãi đậu xe, cầm túi nilon có chứa ma túy vào quầy lễ tân gặp chị Huỳnh Thị Thu H là lễ tân nhà nghỉ, đưa cho Chị H giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Toàn. Chị H không kiểm tra hình ảnh trên chứng minh nhân dân và người thuê phòng nên đồng ý cho Đ thuê phòng số 03. Đ vào phòng, để túi nilon có chứa ma túy và dụng cụ sử dụng lên bàn để đèn ngủ trong phòng nghỉ rồi lên giường nằm sử dụng điện thoại. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 02/02/2020, lực lượng Công an huyện Thủ Thừa kiểm tra nhà nghỉ Tigon. Qua kiểm tra phòng số 03 mà Đ đang thuê, lực lượng Công an phát hiện trên bàn để đèn ngủ có 01 túi nilon màu trắng có 02 quai xách kích thước 29cm x 24cm, bên trong có chứa dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 ống nỏ, ống nhựa, kéo, bật lửa và bình gas và 01 túi nilon trong suốt, hàn kín, kích thước 05cm x 07cm bên trong có chứa tính thể màu trắng, Đ khai nhận là số ma túy đá Đ mua về sử dụng. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản vụ việc đồng thời tạm giữ tang vật, phương tiện liên quan. Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa, Nguyễn Chí Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản kết luận giám định số 69/2020/KLGĐ ngày 06/02/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Long An kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon có rảnh khép (viền đỏ) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2674 gam, loại Methamphetamine.
Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 12/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Chí Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa trong phần luận tội đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đ từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,2674 gam ma túy, tiêu hủy các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản tạm giữ đồ vật đồng thời còn phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ nên đã đủ cơ sở khẳng định: Tối ngày 01/02/2020, bị cáo Đ mua một gói ma túy đá (sau khi giám định trọng lượng là 0,2674gam ma túy đá) với giá 200.000đ của một người không rõ nhân thân. Sau đó, đến thuê Phòng số 3 của nhà nghỉ Tigon ở Khu khố 1, thị trấn Thủ Thừa để sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 02/02/2020, khi Đ chưa kịp sử dụng thị bị lực lượng Công an huyện Thủ Thừa kiểm tra phát hiện nên tiến hành tạm giữ tang vật, phương tiện liên quan. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 12/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là mầm móng để phát sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính.
Đề nghị của ông Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa có thu giữ vật chứng gồm: Tiền Việt Nam 739.000đ, 01 Điện thoại di động hiệu OPPO A71 màu vàng hồng đã qua sử dụng (không kiểm tra tình trạng bên trong máy) cùng một sim di động gắn trong máy số 0834588242 là tài sản của Đ không sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa đã trả lại cho Nguyễn Chí Đ.
Một xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại SH, biển kiểm soát 62U1 – 069.14 thuộc sở hữu của anh Dương Gia T, anh Truyền cho anh Thông mượn. Sau đó Thông cho Nguyễn Chí Đ mượn vào ngày 01/02/2020. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa đã trả lại cho anh Dương Gia T.
Xét thấy việc xử lý các vật chứng nêu trên của Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Một giấy chứng minh nhân dân số 363880449 mang tên Nguyễn Văn Toàn, cấp ngày 19/12/2014, nơi cấp: Công an tỉnh Hậu Giang. Quá trình điều tra, Đ khai nhận do Đ nhặt được vào khoảng tháng 12/2019. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa đã có thông báo số 238/CV-CQCSĐT ngày 13/3/2020 thông báo đến anh Nguyễn Văn Toàn và Công an xã Nhơn Nghĩa A, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang để giải quyết. Do đó, giao Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa tiếp tục tạm giữ xử lý theo quy định của pháp luật.
Một gói niêm phong ký hiệu 69/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Long An, có chữ ký của Phạm Thành Duy và Nguyễn Thị Quế Châu. 01 túi nilon màu trắng có 02 quai xách, kích thước 29cm x 24cm; 01 ống thủy tinh dài 15cm, có 01 đầu tròn, đường kính 01cm (nỏ); 01 bật lửa gas bằng kim loại (hộp quẹt gas); 15 đoạn ống nhựa màu trắng (ống hút nước) mỗi đoạn dài 21cm; 01 kéo kim loại dài 10cm; 01 bình gas mini hiệu BLUE SKY (đã qua sử dụng). Số vật chứng nêu trên là ma túy và công cụ để sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với anh Nguyễn Hữu T là người đã cho bị cáo Đ mượn xe mô tô 62U1- 069.14 thuộc sở hữu của anh Dương Gia T cho anh Thông mượn. Anh Thông và anh Truyền đều không biết Đ mượn xe nêu trên thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Thông và anh Truyền là có căn cứ.
Đối với chị Huỳnh Thị Thu H là người quản lý Nhà nghỉ Tigon, không biết việc bị cáo Đ thuê phòng nghỉ để sử dụng ma túy. Do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Chị H là có căn cứ.
Riêng đối tượng không rõ nhân thân lai lịch bán ma túy cho bị cáo Đ đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Chí Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Đ 01 (một) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 24/02/2020).
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Chí Đ 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/6/2020) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.Tịch thu tiêu hủy: Một gói niêm phong ký hiệu 69/2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Long An, có chữ ký của Phạm Thành Duy và Nguyễn Thị Quế Châu. 01 túi nilon màu trắng có 02 quai xách, kích thước 29cm x 24cm; 01 ống thủy tinh dài 15cm, có 01 đầu tròn, đường kính 01cm (nỏ); 01 bật lửa gas bằng kim loại (hộp quẹt gas); 15 đoạn ống nhựa màu trắng (ống hút nước) mỗi đoạn dài 21cm; 01 kéo kim loại dài 10cm; 01 bình gas mini hiệu BLUE SKY (đã qua sử dụng).
(Vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKS ngày 12/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Chí Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo và anh Thông biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (15/6/2020). Riêng anh Truyền và Chị H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thủ Thừa; - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa; - Công an huyện Thủ Thừa; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng;- Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tuấn |