- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh H, Mai Văn P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh H, Mai Văn P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢM’GAR TỈNH ĐĂKLĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/HS-ST Ngày 12 - 4 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢM’GAR,TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tha
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Duy Thanh
2. Ông Trần Ngọc Trí
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa:Ông Phạm Văn Thành- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 3 năm 2019, đối với các bị cáo:
1. Trần Thanh H(Tên gọi khác: H Sứt); sinh năm 1980; tại ĐăkLăk;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; Tiền sự: Không;Tiền án: 01 – Tại bản án số: 270/2014/HSST ngày 30/9/2014 Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 24/9/2015 chấp hành xong hình phạt tù, đến tháng 01/2018 chấp hành xong toàn bộ bản án. Nhân thân: Tại bản án số: 18/2009/HSST, ngày 19/01/2009 Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm 05 tháng 28 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngày 05/07/2011 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, ngày 27/04/2013 chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh;ngày 04/02/2016 Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 16/08/2017 chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2019 cho đến nayđang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện CưM’gar, có mặt tại phiên tòa.
2. Mai Văn P (Tên gọi khác: t Nam); sinh năm 1992; tại ĐăkLăk;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn T, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Xuân V và bà Hồ Thị T; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 – Tại bản án số: 291/2017/HSPT ngày 28/9/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 27/4/2018 chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2019 cho đến nayđang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện CưM’gar, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ngân hàng thương mại cổ phần K – Chi nhánh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân C, sinh năm 1990 và bàTrần Thị L, sinh năm 1984– Chuyên viên (Theo giấy ủy quyền số 327/2019/UQ-TCB ngày 11/4/2019) – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi liên quan: Vũ Hữu Đ, sinh năm 1970 – Có đơn xin xét xử vắng mặt
Địa chỉ: Buôn K, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 06/01/2019 Trần Thanh Hđiều khiển xe mô tô biển số 47P9- 0255 chở phía sau là Mai Văn Plưu thông trên đường Hồ Chí Minh theo hướng từ Thành phố Buôn Ma Thuột đi thị xã Buôn Hồ tìm tài sản để trộm cắp lấy tiền tiêu xài. Khi cả hai đi tới buôn C, xã K, huyện CưM’gar thì thấy một nhà kho của ngân hàng thương mại cổ phần K -Chi nhánh Đăk Lăk không có người trông coi, bên ngoài nhà kho có 02 cánh cửa sắt, loại cửa kéo có kích thước là (3,8x3,1)m, nên H và P cùng nhau vào mở các mấu chốt cửa và lấy 01 cánh cửa mang đi bán cho tiệm thu mua phế liệu do anh Võ Hữu Đ ở buônC, xã K, huyện CưM’gar với số tiền 1.050.000đ, sau khi bán lấy tiền cả hai tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 9 giờ ngày 09/01/2019 H và P bàn nhau tiếp tục đi xuống lấy trộm nốt cánh cửa sắt còn lại của nhà kho để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đang thực hiện hành vi trộm cắp cánh cửa sắt trên thì bị người dân cùng công an xã C, bắt quả tang.
Tại kết luận định gía tài sản số 05 ngày 11/1/2019 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện CưM’gar kết luận: 02 cánh cửa sắt kích thước là (3,8x3,1)m, có trọng lượng 384kg, giá trị mỗi cánh cửa sắt là 1.056.000đ, tổng giá trị 02 cánh cửa sắt là: 2.112.000đ.
Bản cáo trạng số: 14/CT - VKS ngày 13 tháng 3 năm 2019, Viện kiểm sát
nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố các bị cáo Trần Thanh H và Mai Văn P về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội
dung bản cáo trạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi
phạm tội của các bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định đã truy tố và đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáovà đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáoTrần Thanh H và Mai Văn P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điểm g
khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh H từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
Xử phạt bị cáo Mai Văn P từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
Các bị cáo không có ý kiến đối đáp tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Tại phiên tòa các bị cáo Trần Thanh H, Mai Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận:Vào khoảng 10 giờ ngày 06 tháng 01 năm 2019 và vào khoảng 9 giờ ngày 09/01/2019, Trần Thanh H và Mai Văn P là các đối tượng đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích đã rủ nhau cùng thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản mỗi lần trộm cắp 01 cánh cửa sắt loại cửa kéo tại nhà kho của của ngân hàng K– Chi nhánh Đăk Lăk thuộc buôn C, xã K, huyện CưM’gar, trị giá 01 cánh cửa sắt là 1.056.000đ. tổng giá trị 02 lần trộm cắp là: 2.112.000đ (hai triệu một trăm mười hai ngàn đồng).Hành vi của các bị cáo Trần Thanh H và Mai Văn Pđã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản’’, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Như vậy việc các bị cáo Trần Thanh H và Mai Văn P bị Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
Tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sựquy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a)…
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”
. Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người bị hại, gây tác động xấu đến trật tự trị an tại địa P. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các bị cáo đều có nhân thân xấu nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Trong vụ án này có hai bị cáo, tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo là như nhau nên mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo bằng nhau là phù hợp.
.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả cho người bị hại, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Đối với anh Võ Hữu Đ là người mua cánh cửa sắt của bị cáoH và P, anh Đkhông biết là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp với quy định của phảiáp luật.
. Về xử lý vật chứng:Đối với02 cánh cửa sắt loại cửa kéo có kích thước (3,8x3,1)m, trọng lượng 384kg là tài sản của ngân hàng thương mại cổ phần K - Chi nhánh Đăk Lăk, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar đã trả cho ngân hàng K -Chi nhánh Đăk Lăk là phảiù hợp với pháp luật cần chấp nhận.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 47P9- 0255 chưa xác định được chủ sở hữu, nên cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, khi nào xác định được chủ sở hữu sẽ làm rõ và xử lý sau là phảiù hợp.
Đối với số tiền 1.050.000đồng mà anh Võ Hữu Đ đã trả tiền mua cánh cửa sắt của bị cáo H và P, anh Đẹp không có yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền trên, nhưng đây là tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên cần truy thu sung công quỹ Nhà nước, mỗi bị cáo phải nộp 525.000 đồng.
Các bị cáo phải chịu án phảií theo quy định của phảiáp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh H, Mai Văn P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phảiạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/01/2019.
Xử phạt bị cáo Mai Văn P 01 (Một) năm 03 (Ba) thángtù.
Thời hạn chấp hành hình phảiạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/01/2019.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar đã trả lại 02 cánh cửa sắt loại cửa kéocó kích thước (3,8x3,1)m, trọng lượng 384kg cho ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam -Chi nhánh Đắk Lắk là chủ sở hữu hợp pháp.
Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền do các bị cáo Trần Thanh H, Mai Văn Pphảiạm tội mà có mỗi bị cáo phảiải nộp 525.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí:Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phảií và lệ phảií Tòa án.
Các bị cáoTrần Thanh H, Mai Văn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phảií hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phảiiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh; TA tỉnh ĐắkLắk ; - Sở Tư phảiáp ĐắkLắk; - Vụ giám đốc kiểm tra I; - VKS huyện CưM’gar; - CA huyện CưM’gar; - Thi hành án dân sự; - Thi hành án HS ; - Bị cáo; bị hại; - Người liên quan; - Lưu văn thư; hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phảián – Chủ tọa phảiiên tòa Đỗ Văn Tha |