vanban.org

Bản án 18/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 24/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L (Nguyễn Thị Lợi), Nguyễn Thị H (HN), Phạm Thị Thu T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. 1. Xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L (Nguyễn Thị Lợi), Nguyễn Thị H (HN), Phạm Thị Thu T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2018/HSST
Ngày: 24/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hồng Duy.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đợi và ông Nguyễn Văn Xung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Niê Đoan Trinh – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2018/HSST, ngày 20/03/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 04 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2018/HSST-QĐ, ngày 17/4/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2018/HSST-QĐ, ngày 17/5/2018, đối với các bị cáo.

1. Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1959; Tên gọi khác: Nguyễn Thị L; Tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn M, sinh năm 1933 và bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1935; Chồng: Nguyễn Đình S, sinh năm 1960; Có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án: Ngày 13/6/2016, TAND huyện Đắk Mli xử phạt 9 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999, đến ngày 14/12/2017, thực hiện hành vi đánh bạc. Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú kể từ ngày khởi tố bị can (Bị cáo có mặt).

2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; Tên gọi khác: HN; Tại Đắk Nông; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn N1 và bà Võ Thị N2 (Đều đã chết); Chồng: Phan Đình N3, sinh năm 1965; Có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án: Ngày 13/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ, về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 248 của BLHS năm 1999, đến ngày 14/12/2017, thực hiện hành vi đánh bạc. Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú kể từ ngày khởi tố bị can (Bị cáo có mặt).

3. Phạm Thị Thu T, sinh năm 1977; Tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đình L1 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1954; Chồng: Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1972; Có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án: Ngày 13/6/2016, bị TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ, về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 248 của BLHS năm 1999, đến ngày 14/12/2017, thực hiện hành vi đánh bạc. Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú kể từ ngày khởi tố bị can (Bị cáo có mặt).

*/ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

- Anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1991, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Anh Phạm Quang T3, sinh năm 1990, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1972, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1984, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Bà Phan Thị N4, sinh năm 1932, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

*/ Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1954, vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 14/12/2017, tại nhà bà Phan Thị N4, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Kim P, Phạm Thị Thu T cùng rủ nhau đánh bài xì lát ăn tiền.

Hình thức đánh bạc như sau: trước khi chơi, mỗi người chơi đặt cược từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng, sau đó, người làm cái sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá chia cho mỗi người chơi 02 lá bài, rồi lần lượt từng người chơi từ trái sang phải (tính từ người được chia bài đầu tiên) xem bài, tùy vào điểm số của bài mà người chơi có quyết định rút thêm bài hay không. Quy ước như sau: các lá bài 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 được tính lần lượt từ 2 điểm đến 10 điểm; các lá bài J, Q, K được tính 10 điểm, lá bài A (át) được tính là 1 điểm, 10 điểm hoặc 11 điểm, tùy thuộc người chơi quyết định. Bài lớn nhất là 2 lá A (át) gọi là xì bàn; thứ hai là 1 lá A (át) và 1 trong các lá 10, J, Q, K gọi là xì lát; thứ ba là tổng 5 lá bài không quá 21 điểm gọi là ngũ linh; cuối cùng là thứ tự lớn nhỏ dựa trên tổng điểm của các lá bài trên tay người chơi; nếu người chơi có tổng điểm lớn hơn 21 gọi là oác hoặc thua. Nếu người chơi có tổng điểm 02 lá bài dưới 16 điểm thì phải rút thêm không quá 3 lá bài để tính tổng, nếu tổng điểm 02 lá bài trên 16 điểm thì có thể rút tiếp hoặc không. Nếu người làm cái có tổng điểm 02 lá bài lớn hơn 15 điểm thì có quyền lật bài của người chơi trước khi bốc bài; nếu có tổng điểm 02 lá bài dưới 15 điểm thì phải rút thêm bài; nếu nhà cái hơn điểm người chơi thì thắng số tiền người đó đặt cược, ngược lại, người làm cái trả tiền bằng tiền người chơi đã cược, nếu hai bên bằng nhau thì huề.

Sau khi thống nhất cách chơi, Phạm Thị Thu T lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá (đã qua sử dụng) để ở trong phòng khách rồi cùng Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Kim P đi lên phòng ngủ tầng hai nhà bà Phan Thị N4 để chơi. Khoảng 15 phút sau, Nguyễn Thị H không chơi nữa mà đi về thì có Nguyễn Thị L3, Phạm Quang T3, Nguyễn Ngọc Q lần lượt đến tham gia đánh bạc. Lúc này, cả nhóm chuyển sang chơi bài xì lát cào, có nghĩa là luật chơi giống bài xì lát không có người làm cái; sau khi người chơi rút bài, tính điểm thì tất cả cùng lật bài lên, người nào có điểm lớn nhất sẽ ăn toàn bộ số tiền những người chơi khác đã đặt cược. Đến lúc 22 giờ 50 phút cùng ngày, khi Phạm Thị Thu T, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Kim P, Phạm Quang T3, Nguyễn Ngọc Q đang chơi bài xì lát cào sát phạt bằng tiền thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 3.500.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá đã qua sử dụng và 01 cái chiếu nhựa màu xanh. Quá trình điều tra đã chứng minh được số tiền các con bạc sử dụng để đánh bạc là 3.500.000 đồng. Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, Phạm Thị Thu T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Thị L3, Phạm Quang T3 và Nguyễn Ngọc Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại Bản cáo trạng số 17/CTr – VKS, ngày 20 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đăk Mil để xét xử các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị H, Phạm Thị Thu T về tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, Nguyễn Thị H, Phạm Thị Thu T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

- Về hình phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L từ 03 đến 06 tháng tù giam; bị cáo Nguyễn Thị H từ 03 đến 06 tháng tù giam; Phạm Thị Thu T từ 03 đến 06 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41; Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

+ Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia không rõ chủng loại, màu đỏ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Goly màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei 367777062796281; 01 chiếc chiếu màu xanh kích thước 1,4 mét và số tiền 4.600.000 đồng cho các chủ sở hữu hợp pháp.

+ Tịch thu và sung công quỹ Nhà nước số tiền 3.500.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

+ Tịch thu và tiêu hủy 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 lá do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

- Đối với Nguyễn Thị L3, Nguyễn Thị Kim P, Phạm Quang T3, Nguyễn Ngọc Q có hành vi đánh bạc dưới hình thức xì lát sát phạt bằng tiền, với tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 3.500.000 đồng là chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị L3, Nguyễn Thị Kim P, Phạm Quang T3 và Nguyễn Ngọc Q về hành vi đánh bạc theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, các bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang ngày 14/12/2017 và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: từ 20 giờ 00 phút đến 22 giờ 50 phút, ngày 14/12/2017, tại Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Thị Mỹ L, Phạm Thị Thu T, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị L3, Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Ngọc Q và Phạm Quang T3 có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức xì lát được thua bằng tiền, số tiền luân chuyển trên chiếu bạc là 3.500.000 đồng.

Các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, Phạm Thị Thu T, Nguyễn Thị H đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh xi lát với mục đích được thua bằng tiền. Tổng số tiền luân chuyển trên chiếu bạc khi bị bắt 3.500.000 đồng. Theo Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hành vi của các bị cáo chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nhưng các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên tình tiết “Chưa được xóa án tích” là yếu tố định tội cho các bị cáo. Theo quy định khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 thì “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”. Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, Phạm Thị Thu T, Nguyễn Thị H đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo không những đã xâm đến trật tự công cộng mà còn gây nên những ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được rằng pháp luật nghiêm cấm việc đánh bạc trái phép, sát phạt nhau bằng tiền hoặc hiện vật dưới mọi hình thức và mọi hành vi đều bị trừng trị. Tệ nạn đánh bạc còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật và vì động cơ vụ lợi nên ngày 14/12/2017, Nguyễn Thị Mỹ L, Phạm Thị Thu T, Nguyễn Thị H có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, số tiền luân chuyển trên chiếu bạc là 3.500.000 đồng. Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và chịu hậu quả do hành vi phạm tội, đồng thời có một hình phạt đủ nghiêm để xử phạt các bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ mà các bị cáo đã gây ra.

Trong vụ án này mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo là ngang nhau, là đồng phạm giản đơn. Do đó khi định tội, lượng khung hình phạt, không phải phân hóa vai trò phạm tội của từng bị cáo, hình phạt của từng bị cáo tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân, số tiền được sử dụng vào đánh bạc của từng bị cáo mới bảo đảm sự công bằng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng và nhân thân các bị cáo: Ngày 13/6/2016 các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L, Phạm Thị Thu T, Nguyễn Thị H bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ (khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/8/2015 đến ngày 02/9/2015 là 09 ngày) về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, ngày 16/02/2017 chấp hành xong. Đến ngày 14/12/2017, tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc và bị bắt quả tang. Các bị cáo chưa được xóa án tích, tuy nhiên, tình tiết “Chưa được xóa án tích” là yếu tố định tội cho các bị cáo nên không áp dụng tính tiết tặng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 48 và áp dụng khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Các bị cáo đã bị xử phạt 09 tháng cải tạo giam giữ về hành vi đánh bạc vào năm 2016 và chưa được xóa án tích, các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà các bị cáo coi thường pháp luật và tổ chức, sát phạt nhau trên chiếu bạc. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội; có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ các bị cáo: sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tại phiên tòa các bị cáo đã thực sự tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS năm 1999 đối với các bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật của nhà nước.

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc và thu nhập không ổn định, qua xác minh tại địa phương các bị cáo không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, điều luật áp dụng, hình phạt, các biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Goly màu vàng của bà Nguyễn Thị Mỹ L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei 367777062796281 của bà Nguyễn Thị Kim P; 01 chiếc chiếu màu xanh kích thước 1,4 mét cho bà Phan Thị N; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia không rõ chủng loại, màu đỏ và số tiền 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm) của anh Phạm Quang T. Những tài sản nêu trên không liên quan đến hành vi đánh bạc của các bị cáo nên chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Trong vụ án này còn có những vấn đề sau: Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Kim P, Phạm Quang T, Nguyễn Ngọc Q có hành vi đánh bạc, tổng số tiền luân chuyển trên chiếu bạc là 3.500.000 đồng, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 26/6/2017 của Quộc Hội về hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự năm 2105, sửa đổi, bổ sung năm 2017, là chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị L3, Nguyễn Thị Kim P, Phạm Quang T3 và Nguyễn Ngọc Q về hành vi đánh bạc theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L (Nguyễn Thị Lợi), Nguyễn Thị H (HN), Phạm Thị Thu T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

2.1. Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L (Nguyễn Thị L) 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bắt thi hành án.

- Bị cáo Nguyễn Thị H (HN) 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bắt thi hành án.

- Bị cáo Phạm Thị Thu T 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bắt thi hành án.

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41; Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

3.1. Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã trả: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Goly màu vàng cho bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei 367777062796281 cho bà Nguyễn Thị Kim P; 01 chiếc chiếu màu xanh kích thước 1,4 mét cho bà Phan Thị N4; lại 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia không rõ chủng loại, màu đỏ và số tiền 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm) cho anh Phạm Quang T3.

3.2. Tịch thu và sung công quỹ Nhà nước số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm) các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, số tiền được chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân huyện Đắk Mil theo phiếu hạch toán giao dịch khách hàng số 7494691, ngày 19/03/2018 của Phòng giao dịch ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) huyện Đắk Mil.

3.3. Tịch thu và tiêu hủy 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 lá do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Vì không còn giá trị sử dụng.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ