vanban.org

Bản án 18/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Hương Trà, TP. Huế Tuyên án 18/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình L và Trương Văn Tr phạm t i “Tr m cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L 09 (ch n) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam 19/6/2017; Xử phạt bị cáo Trương Văn Tr 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam 19/6/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình L và đồng phạm "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình L và Trương Văn Tr phạm t i “Tr m cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2017/HSST
Ngày: 18/09/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Xuân An

2. Ông Nguyễn Tiến Giang

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Văn Viện, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2017/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đình L (tên gọi khác: Rin); giới t nh: Nam; sinh ngày 21/8/1995 tại Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Số 3/34 Nguyễn Gia Thiều, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Phụ xe; trình đ văn hoá: 8/12; con ông Nguyễn Đình D và bà Hồ Thị B ch Ph; có vợ và có 02 con; tiền án: Ngày 27/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xử phạt 03 tháng tù về t i Tr m cắp tài sản; bị bắt tạm giam ngày 19/6/2017; có mặt.

2. Họ và tên: Trương Văn Tr (tên gọi khác: Ruồi); giới t nh: Nam; sinh ngày: 23/01/1995 tại Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ: Số 16/46 Nguyễn Gia Thiều, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ cơ kh ; trình đ văn hoá: 05/12; con ông Trần Văn Kh và bà Hoàng Thị L; vợ, con: chưa có; bị bắt tạm giam ngày 19/6/2017; có mặt.

Người bị hại: Chị Trần Thị Kim L, sinh ngày 17/05/2001; có mặt

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Hoàng Thị Kim L (mẹ cháu L); có mặt.

Cùng trú tại: Tổ dân phố 5, phường T, thị xã HTr, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đình D; nơi ĐKNKTT: số 3/34 Nguyễn Gia Thiều, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, tạm trú: 139 Chi Lăng, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

Người bảo vệ quyền lợi của người bị hại: Ông Dương Tiến D-Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Đình L, Trương Văn Tr bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố về hành vi phạm t i như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 18 tháng 6 năm 2017, do cần tiền để mua ma túy sử dụng nên Nguyễn Đình L rủ Trương Văn Tr đi tr m cắp tài sản thì Tr đồng ý. L khiển xe mô tô BKS 75D1-119.63 chở Tr đi ra hướng thị xã Hương Trà tìm sơ hở của người dân để lấy tr m tài sản. L chở Tr đi dọc tuyến đường S, phường T, thị xã HTr. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi ngang qua số nhà 121 đường S, phường T, thị xã HTr thì L và Tr phát hiện có 01 xe đạp điện của chị Trần Thị Kim L đang để ở trong sân nhà không có người trông giữ. L dựng xe ở ph a bên đường đối diện và nói Tr ngồi đợi ở trên xe rồi đi b qua đường, vào trong sân nhà dắt b xe đạp điện ra ngoài đường rồi cùng với Tr chạy vào hướng thành phố H để bán. Khi L, Tr đi vào thành phố H thì bị phát hiện, L bị bắt giữ cùng tang vật, còn Tr điều khiển xe mô tô BKS 75D1-119.63 bỏ chạy.

Tại bản kết luận định giá số 35 ngày 19 tháng 6 năm 2017 của H i đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã HTr kết luận: 01 xe đạp điện hiệu Yamaha màu đỏ đen có giá trị 7.040.000 đồng (Bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 xe đạp điện hiệu Yamaha màu đỏ đen, 01 xe mô tô BKS 75D1-119.63. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Trà đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 19/QĐ/KSĐT ngày 30/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình L, Trương Văn Tr về t i: Tr m cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 138 B luật hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần luận t i đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà đề nghị H i đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 B luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình L. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p, h khoản 1 Điều 46 B luật hình sự đối với bị cáo Trương Văn Tr để tuyên bố các bị cáo phạm t i “Tr m cắp tài sản” và xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L từ 09 đến 12 tháng tù; xử phạt bị cáo Trương Văn Tr từ 06 đến 09 tháng tù;

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên H i đồng xét xử không phải giải quyết.

- Về án ph : Các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo luật định.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18 tháng 6 năm 2017 khi đi ngang qua số nhà 121 đường S, phường T, thị xã HTr Nguyễn Đình L và Trương Văn Tr đã lén lút chiếm đoạt 01 xe đạp điện hiệu Yamaha của cháu Trần Thị Kim L có giá trị 7.040.000 đồng.

Xét thấy lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với n i dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy H i đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Nguyễn Đình L và Trương Văn Tr đã phạm t i “Tr m cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của B luật hình sự.

Các bị cáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng không chịu khó lao đ ng tạo thu nhập cho bản thân mà lại ham chơi, rủ rê nhau đi tr m cắp tài sản để có tiền sử dụng ma túy. Các bị cáo chủ đ ng lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của người bị hại trong việc trông giữ tài sản để thực hiện hành vi phạm t i. Hành vi phạm t i của bị cáo đã xâm phạm về quyền sở hữu tài sản của người khác, gây hoang mang, lo lắng và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn địa phương.

Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo thấy rằng: Nguyễn Đình L là người rủ rê Trương Văn Tr đi tr m cắp tài sản và trực tiếp lấy cắp tài sản nên đóng vai trò là chủ mưu. Tr là người cảnh giới tạo điều kiện cho L lấy tài sản nên Tr là đồng phạm có vai trò là người giúp sức.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của các bị cáo thấy rằng:

Đối với Nguyễn Đình L đã nhiều lần bị xử phạt hành ch nh về hành vi Tr m cắp tài sản nhưng đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành ch nh. Ngày 27/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xử phạt 03 tháng tù về t i Tr m cắp tài sản. Khi chưa được xóa án t ch, Long lại phạm t i mới nên phạm vào tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 B luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa L thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 B luật hình sự.

Đối với Trương Văn Tr cũng đã nhiều lần bị xử phạt hành ch nh nhưng đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành ch nh. Tr không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm t i lần đầu thu c trường hợp t nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm h, p khoản 1 Điều 46 B luật hình sự.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên H i đồng xét xử không phải giải quyết.

- Về án ph : Các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo luật định.

V các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình L và Trương Văn Tr phạm t i “Tr m cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 B luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình L. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1 Điều 46 B luật hình sự đối với bị cáo Trương Văn Tr;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L 09 (ch n) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam 19/6/2017;

- Xử phạt bị cáo Trương Văn Tr 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam 19/6/2017.

- Về án ph : Nguyễn Đình L, Trương Văn Tr mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ