- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thanh Tùng và đồng phạm - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thanh T, Nguyễ…
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 179/2026/HS-ST Ngày 17- 7 -2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Tuấn và bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5
- Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 154/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2026, đối với:
- Các bị cáo:
1. Dương Thanh T, sinh ngày 31/10/2005 tại tỉnh Ninh Bình; CCCD số: 035205007717; nơi cư trú: Tổ 4C (cũ), phường Ph, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Ph và bà Nguyễn Thị Thuý H; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án số 166/2024/HS-ST, ngày 07/11/2024, Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2026 đến nay; có mặt.
2. Hoàng Văn N, sinh ngày 19/12/2007 tại tỉnh Ninh Bình; CCCD số: 035207005624; nơi cư trú: Tổ 4D (cũ), phường Ph, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Quang H và bà Vũ Thị Th; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án số 166/2024/HS-ST, ngày 07/11/2024, Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt 23 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đặc điểm nhân thân: Ngày 04/8/2022 Công an thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích”; ngày 26/12/2022, Công an thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2026 đến nay; có mặt.
3. Nguyễn Đức A, sinh ngày 08/4/2005 tại tỉnh Ninh Bình; CCCD số: 035205005948; nơi cư trú: Tổ 3A (cũ), phường Ph, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án số 63/2024/HS-ST, ngày 19/4/2024, Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt 25 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 50 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đặc điểm nhân thân: Ngày 26/12/2022, Công an thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2026 đến nay; có mặt.
4. Nguyễn Thái S, sinh ngày 18/9/2004 tại tỉnh Ninh Bình; CCCD số: 035204008282; nơi cư trú: Tổ 4B (cũ), phường Ph, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S1 và bà Bùi Thị L; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không. Đặc điểm nhân thân: Ngày 26/12/2022, Công an thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2026 đến nay; có mặt.
5. Đinh Gia H, sinh ngày 12/3/2007 tại tỉnh Ninh Bình; CCCD số: 035207010891; nơi cư trú: Tổ 12D (cũ), phường Ph, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Ngọc S2 và bà Trần Thị Bích H1; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án số 63/2024/HS-ST, ngày 19/4/2024, Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2026 đến nay; có mặt.
6. Nguyễn Sỹ Th, sinh ngày 06/10/2005 tại tỉnh Ninh Bình; CCCD số: 035205009688; nơi cư trú: Tổ dân phố B (cũ), phường Ph, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T1 và bà Nguyễn Thị T2 Nga; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án số 63/2024/HS-ST, ngày 19/4/2024, Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị bắt tạm giam từ ngày 15/02/2026 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Trần Mạnh C, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ 11C (cũ), phường Ph, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Minh Q, sinh năm 2007; địa chỉ: Tổ 11A (cũ), phường Ph, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ 3A (cũ), phường Ph, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
4. Bà Vũ Thị Th1, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ 4D (cũ), phường Ph, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
- Người làm chứng: Chị Hoàng Thu H1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 13/02/2026, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Dương Thanh T, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H tổ chức ăn tất niên cuối năm tại quán Phố N thuộc địa phận phường H, tỉnh Ninh Bình. Trong khi ngồi ăn, T nảy sinh ý định sử dụng ma tuý nên nói với cả nhóm "Hôm nay tất niên thì đi thổi cơm một tý" cả nhóm đều hiểu ý của T rủ mọi người sử dụng ma tuý, Đức A nói "Ở đây nhà thằng nào chơi được?" thì N nói "Về nhà em". N, Đức A, T, S và H thống nhất cùng góp tiền để S liên hệ mua ma tuý để về nhà N sử dụng.
Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 14/02/2026 ăn xong, trên đường đi S hỏi "Loa đèn đâu", T trả lời "Có thằng Q thuê được loa đèn ở chỗ Cường T, có bốn trăm nghìn thôi". Sau đó T sử dụng tài khoản Messenger "Thanh T" gọi điện đến tài khoản Messenger "Quân Ng" của Nguyễn Minh Q, sinh ngày 01/11/2007 ở tổ 11A, phường Ph, tỉnh Ninh Bình, T nói với Q "Thuê loa đèn cho anh, anh đi ăn sinh nhật, anh đang nợ tiền Cường T cái sạc, mày ra mặt hộ anh". Q đồng ý và nhắn tin đến tài khoản Messenger "Cường T" của anh Trần Mạnh C, sinh năm 1980, trú tại Tổ 11C, phường Ph, tỉnh Ninh Bình với nội dung "Chú C ơi, nhà chú có cho thuê loa đèn không", C trả lời "Có", rồi Q nhắn tin cho T nói "Loa đèn có rồi đấy anh nhé". Lúc này, H điều khiển xe mô tô BKS 29BB-116.68 chở N đến đón Q rồi chở Q, N đến quán Cafe của anh C, đến nơi N đứng ngoài đợi còn Q và H đi vào quán thuê 01 chiếc loa Bluetooth và 01 chiếc đèn laze của Trần Mạnh C với giá 400.000 đồng. Sau khi thuê được loa, H điều khiển xe mô tô chở Q về nhà Q rồi chở N đi về nhà của N.
Trong khi H và N đi thuê loa, đèn thì S điều khiển xe mô tô BKS 35A-373.18 chở T đến đón Đức A do trước đó Đức A vào gửi xe mô tô ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam, trên đường đi T dừng xe vào quán mua 06 chai nước ngọt "0 độ" và 06 lon Cocacola mục đích dùng khi sử dụng trái phép chất ma tuý. Trong khi T vào mua nước thì S sử dụng tài khoản Messenger "Thái S" gọi đến tài khoản Messenger "Thành L" của Nguyễn Sỹ Th nói với Th "Lấy hộ cho 03 viên kẹo và 02 chỉ ke", Th hiểu ý của S hỏi mua 03 viên ma tuý kẹo và 02 chỉ ma tuý ketamine, nên đồng ý và sử dụng tài khoản Messenger "Thành L" của Th gọi điện đến tài khoản Messenger "Duy A" để hỏi mua ma tuý thì được người này báo giá "ke 1.600.000 đồng/01 chỉ, kẹo 300.000 đồng/viên, tổng 4.100.000 đồng", Th gọi cho S báo giá thì S đồng ý. Th gọi đến tài khoản Messenger "Duy A" và hẹn gặp ở khu vực ngã tư M thuộc phường Ph, tỉnh Ninh Bình để mua, bán ma tuý. Sau khi gọi cho Duy A, Th đến khu vực ngã tư M đứng đợi, một lúc sau "Duy A" điều khiển xe mô tô loại Mazda màu trắng, Th không rõ biển kiểm soát đến đưa cho Th 01 túi nilon màu đen, loại túi có viền kẹp zip, Th mở túi nilon bên trong có 02 túi nilon, 01 túi có 03 viên ma tuý kẹo và 01 túi bên trong có 02 túi nhỏ là ma tuý ketamine. Kiểm tra đã đủ số ma tuý cần mua, Th nói sẽ trả tiền sau thì "Duy A" đồng ý, Th liền gọi điện cho S hẹn đến khu vực cầu Ch để nhận ma tuý thì S điều khiển xe mô tô chở T và Đức A đến gặp Th, tại đây Th đưa cho S túi nilon bên trong có 03 viên ma tuý kẹo và 02 chỉ ma tuý ke. S dùng tay trái cầm gòi ma tuý rồi điều khiển xe mô tô BKS 35A-373.18 chở T và Đức A về nhà của N. Khoảng 03 giờ 30 phút sáng cùng ngày, cả nhóm về đến nhà của N rồi cùng lên phòng ngủ của N ở tầng 2. H dùng điện thoại kết nối với loa để bật nhạc và cắm đèn laze. S lấy từ trong túi áo khoác đang mặc ra 01 túi nilon ma tuý vừa mua để lên giường rồi nói với cả nhóm "Tiền đồ là bốn triệu mốt cộng tiền loa đèn nước ngọt thuốc lá mỗi người đóng 950.000 đồng, mỗi người 950.000 đồng bank cho Đức A". T liền đưa 600.000 đồng cho Đức A và sử dụng số tài khoản 9888718282 của mình mở tại Ngân hàng Vietcombank chuyển 350.000 đồng đến số tài khoản của Đức A. Do khi thuê loa N đã chuyển cho H 400.000 đồng để H trả tiền thuê loa nên N sử dụng số tài khoản 091320.1214 mở tại Ngân hàng MB bank chuyển 139.000 đồng và nợ Đức A số tiền còn thiếu. S sử dụng số tài khoản 0857602779 mở tại Ngân hàng Viettinbank chuyển 800.000 đồng cho Đức A. H sử dụng số tài khoản 0917695624 mở tại Ngân hàng MB bank chuyển số tiền 950.000 đồng cùng vào số tài khoản 0913846323 mở tại Ngân hàng MB bank của Nguyễn Đức A. Sau khi nhận được tiền Đức A chuyển số tiền 4.100.000 đồng vào số tài khoản 0975.719972 mở tại Ngân hàng MB bank của Nguyễn Sỹ Th.
Sau khi chuyển tiền xong, H lấy 01 viên ma tuý kẹo trong gói nilon, sử dụng ½ viên rồi đưa phần còn lại cho T sử dụng, H tiếp tục lấy 01 viên ma tuý chia làm 2 phần, 1 phần đưa cho N, phần còn lại đưa cho Đức A sử dụng, 01 viên ma tuý còn lại N lấy đưa cho T, T sử dụng ½ rồi đưa lại S. Sau khi sử dụng hết ma tuý kẹo S nói "đĩa đâu, thẻ đâu", N hiểu ý chưa có đĩa và thẻ để làm công cụ sử dụng ma tuý nên đi xuống bếp lấy 01 chiếc đĩa bằng sứ hình tròn và lấy thẻ căn cước công dân của N đưa cho S, S nói tiếp "tẩu đâu" thì T lấy tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng đưa cho S để S quấn lại làm ống hút sử dụng ma tuý. S lấy chiếc bật lửa có sẵn trong túi quần hơ nóng đĩa, sau khi đĩa đã nóng thì S mở túi nilong lấy 01 chỉ ma tuý Ketamine đổ ra đĩa rồi lấy thẻ căn cước của N để "xào" chia làm 03 đường. S cầm chiếc đĩa có ma tuý đưa lần lượt cho từng người sử dụng, khi sử dụng hết gói ma tuý ketamine thì cả nhóm nằm nghe nhạc. Khoảng 05 giờ sáng ngày 14/02/2026 thì bị tổ công tác của Công an phường Ph, tỉnh Ninh Bình kiểm tra, phát hiện đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Ph lập biên bản theo quy định của pháp luật.
Vật chứng, tài sản thu giữ:
- Thu giữ trong phòng ngủ tầng 2 nhà ở của Hoàng Văn N:
+ 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp nhựa và đường kẻ màu xanh, kích thước khoảng (3x3,5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, niêm phong trong phong bì ký hiệu "VV01".
+ 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, có đường kính khoảng 17,5cm và 01 ống tẩu được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá; 01 thẻ căn cước công dân số 035207005624 mang tên "HOÀNG VĂN N" đều bám dính chất bột màu trắng, niêm phong trong hộp cattong ký hiệu "VV02".
+ Chất bột màu trắng có trên mặt đĩa sứ hình tròn màu trắng được Cơ quan Công an cho vào trong 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có kẹp nhựa và đường kẻ màu xanh, kích thước khoảng (3x3,5)cm, niêm phong trong phong bì ký hiệu "VV03".
+ 01 loa xách tay màu xanh, trên mặt loa có chữ Harman/Kardon kèm theo 01 dây sạc.
+ 01 đèn lade màu đen có chữ TAHOTO kèm theo 01 dây sạc.
+ 01 bật lửa gas màu xanh.
- Thu giữ của Hoàng Văn N: 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 12 màu trắng, điện thoại đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu "KT01".
- Thu giữ của Đinh Gia H: 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max màu vàng nhạt, điện thoại cũ đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu "KT06"; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu bạc – đen, BKS 29BB-116.68, xe cũ đã qua sử dụng.
- Thu giữ của Dương Thanh T: 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu xám, điện thoại cũ đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu "KT03".
- Thu giữ của Nguyễn Thái S: 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu xám bạc, điện thoại cũ đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu "KT02"; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu xám- đen, BKS 35AA-373.18, xe cũ đã qua sử dụng.
- Thu giữ của Nguyễn Đức A: 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone Xs màu trắng, điện thoại cũ đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu "KT04"; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu xám – đỏ - đen, BKS 90B3-554.92, xe cũ đã qua sử dụng.
- Thu giữ của Nguyễn Sỹ Th: 01 điện thoại di động vỏ màu vàng, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, điện thoại cũ đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu "KT05".
Thu mẫu nước tiểu của Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Dương Thanh T, Nguyễn Thái S, Đinh Gia H, Nguyễn Sỹ Th được niêm phong trong các chai nhựa ký hiệu lần lượt là NT01, NT02, NT03, NT04, NT05, NT06.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của: Nguyễn Thái S, tại tổ 4B, phường Ph, tỉnh Ninh Bình và Hoàng Văn N, tại tổ 4D, phường Ph, tỉnh Ninh Bình. Kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Ngày 14/02/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình giám định xác định chất ma tuý đối với các vật chứng và các mẫu nước tiểu thu giữ trong vụ án trên, kết quả:
Tại Bản kết luận giám định số 1155/KL-KTHS ngày 15/02/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
"- Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu VV01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,860g (không phẩy tám trăm sáu mươi gam) loại Ketamine;
- 01 Căn cước công dân mang tên Hoàng Văn N số 035207005624; 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 đĩa sứ màu trắng trong hộp ký hiệu VV02 gửi giám định có bám dính ma tuý loại: Ketamine.
- Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu VV03 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,058g (không phẩy không trăm năm mươi tám gam) loại Ketamie".
Tại Bản kết luận giám định số: 1156/KL-KTHS ngày 15/02/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
"- Tìm thấy chất ma tuý MDMA, Ketamine và Dehydronorketmine là sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý Ketamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01, NT02, NT03, NT04, NT05 ghi thu của Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Dương Thanh T, Nguyễn Thái S, Đinh Gia H gửi giám định.
- Không tìm thấy chất ma tuý thường gặp trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT06 thu của Nguyễn Sỹ Th gửi giám định".
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Ninh Bình giám định khôi phục dữ liệu tin nhắn SMS, cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn trong ứng dụng Messenger, Zalo đã bị xoá đối với điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Sỹ Th niêm phong ký hiệu "KT05" và Nguyễn Minh Q niêm phong ký hiệu "ĐTQ8". Tại các Kết luận giám định số 1905/KL-KTHS ngày 23/4/2026 và số 2298 ngày 13/5/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận:
" Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone, loại 16 Pro Max, màu vàng....đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Sỹ Th, kết quả: Không khôi phục được giữ liệu tin nhắn SMS, cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn trong ứng dụng Messenger đã bị xoá; khôi phục được 78 (bẩy mươi tám) tin nhắn zalo.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone, loại 12 Pro Max, màu xanh....điện thoại cũ đã qua sử dụng, kết quả: Không khôi phục được giữ liệu tin nhắn SMS, cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn trong ứng dụng Messenger đã bị xoá. Khôi phục được 112 (một trăm mười hai) tin nhắn zalo"
Khai thác các dữ liệu được khôi phục trong điện thoại trong đĩa DVD-R lưu trữ dữ liệu của điện thoại sau khi khôi phục không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi, tội của Nguyễn Sỹ Th và Nguyễn Minh Q.
Khai thác dữ liệu điện thoại Iphone 12 của Hoàng Văn N, kết quả: "Các cuộc gọi, tin nhắn SMS đi, đến không có nội dung liên quan đến hành vi phạm tội; từ thời gian 03 giờ 01 phút đến 03 giờ 25 phút ngày 14/02/2026 có các cuộc gọi Messenger đến tài khoản tên "Tung Th"; thời gian 3 giờ 15 phút có 01 tin nhắn Messenger đến tài khoản tên "Tung Th"; thời gian 3 giờ 05 phút có 01 tin nhắn Messenger đến tài khoản tên "Hưng Gi"; tài khoản MB bank lúc 03 giờ 07 phút có 01 giao dịch chuyển 400.000 đồng đến tài khoản MB bank tên "DINH HOANG V".
Khai thác dữ liệu điện thoại của Iphone 16 Pro Max của Đinh Gia H kết quả: "Cuộc gọi đến, cuộc gọi đi, tin nhắn: Không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội; Zalo: Không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội; Messenger: 3 giờ 05 phút ngày 14/02/2026 phát hiện đoạn nội dung tin nhắn với tài khoản Messenger tên "Hoàng N"; MB bank lúc 03 giờ 33 phút 15 giây: chuyển 950.000 đồng sang tài khoản MB bank số 0913846323, tên NGUYEN DUC A".
Khai thác dữ liệu điện thoại Iphone 15 Promax của Dương Thanh T kết quả: "Kiểm tra các ứng dụng Messenger: phát hiện cuộc gọi đến của tài khoản có tên "Nam H" thời gian lúc 03 giờ 26 phút; 01 cuộc gọi nhỡ từ tài khoản "Thái Th" thời gian lúc 03 giờ 54 phút; 01 cuộc gọi thoại với tài khoản "Quân Ng" lúc 02 giờ 51 phút có thời gian 54 giây; có tin nhắn trò chuyện với tài khoản "Quân Ng" thời gian từ lúc 02 giờ 51 phút đến 03 giờ 17 phút; Mở ứng dụng ngân hàng Vietcombank trong điện thoại tại thời điểm 02 giờ 03 phút 20 giây ngày 14/02/2026 có giao dịch chuyển 350.000 VNĐ đến số tài khoản "0857602779 NGUYEN THAI S", tại thời điểm 03 giờ 31 phút 44 giây ngày 14/02/2026 chuyển 350.000 đồng đến số tài khoản "0913846323 NGUYEN DUC A".
Khai thác dữ liệu điện thoại Iphone XS MAX của Nguyễn Đức A, kết quả: "Cuộc gọi đến, cuộc gọi đi, tin nhắn: Không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội; Zalo, Messenger: Không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội, tài khoản MB bank: 03 giờ 27 + 800.000VND từ NGUYEN THAI S, 03 giờ 31 phút + 350.000 VND từ DUONG THANH T, 03 giờ 31 + 139.000 VND từ HOANG VAN N, 03 giờ 33 + 950.000 VND từ DINH GIA H, 03 giờ 34 + 19.000 VND từ DINH GIA H, 03 giờ 35: - 4.100.000 VND NGUYEN DUC A chuyển tiền".
Khai thác dữ liệu điện thoại Iphone 15 Promax của Nguyễn Thái S, kết quả: "Cuộc gọi đến, cuộc gọi đi, tin nhắn: Không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội, Zalo không cài ứng dụng trên máy. Messenger: Phát hiện thời gian cuộc gọi đến từ tài khoản Messenger tên "Long Th" lần lượt là: 3 giờ 10 phút với thời lượng 25 giây, 3 giờ 11 phút với thời lượng 19 giây, 3 giờ 12 phút là 01 phút, 3 giờ 22 phút là 33 giây và các cuộc gọi đi với tài khoản Messenger tên: "Long Th" lần lượt là: 3 giờ 09 phút với thời lượng 33 giây, 3 giờ 17 phút với thời lượng 09 giây đều cùng ngày 14/02/2026; Tài khoản Vietinbank 02 giờ 03 phút ngày 14/02/2026 nhận 350.000 đồng từ tài khoản tên DƯƠNG THANH T; 02 giờ 05 phút ngày 14/02/2026 chuyển 100.000 đồng đến tài khoản iPay mã giao dịch 604502153444 QR, 03 giờ 27 phút ngày 15/02/2026 chuyển 800.000 đồng đến tài khoản iPay mã giao dịch 128K262ONSS7E18N QR".
Cáo trạng số 59/CT-VKS-KV5 ngày 23/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố: Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố Nguyễn Sỹ Th về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1, khoản 6 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị cáo Nguyễn Sỹ Th phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thanh T, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Đinh Gia H; khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thanh T, Nguyễn Đức A, Đinh Gia H. Căn cứ khoản 1, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Sỹ Th:
Xử phạt bị cáo Dương Thanh T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"; tổng hợp hình phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) về tội "Gây rối trật tự công cộng", buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"; tổng hợp hình phạt 25 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) về tội "Gây rối trật tự công cộng", buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 09 năm 07 tháng tù đến 09 năm 10 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026. Xử phạt bị cáo Đinh Gia H từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"; tổng hợp hình phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) về tội "Gây rối trật tự công cộng", buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 09 năm đến 09 năm 03 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026. Xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ Th từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"; tổng hợp hình phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) về tội "Gây rối trật tự công cộng", buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2023 đến ngày 19/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H. Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Sỹ Th từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, các Điều 106, Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước gồm 06 điện thoại trong phong bì niêm phong ký hiệu KT01, KT02, KT03, KT04, KT06, phong bì ký hiệu 2298/KL-KTHS; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng trong hộp giấy niêm phong ký hiệu số 1155/KTHS, mặt trước phong bì có ghi: "Mẫu vật hoàn trả VV02"; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, đeo biển kiểm soát 35AA-373.18; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, đeo biển kiểm soát 29BB-11668. Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn N 01 thẻ căn cước công dân số 035207005624 mang tên HOÀNG VĂN N trong hộp giấy niêm phong ký hiệu số 1155/KTHS, mặt trước phong bì có ghi: "Mẫu vật hoàn trả VV02". Tịch thu tiêu hủy số ma tuý hoàn trả sau giám định và dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý. Truy thu của bị cáo Nguyễn Sỹ Th số tiền 4.100.000đ (Bốn triệu một trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số: A1163/TPT-CSMT ngày 29/04/2026 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn L và bà Vũ Thị Th1 đều xác định ngày 14/02/2026 không biết các bị cáo có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nay không có yêu cầu, đề nghị gì.
Tại phiên tòa, các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S, Đinh Gia H và Nguyễn Sỹ Th đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng của các bị cáo đều cùng nội dung, đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó.
Về tội danh và vai trò của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S, Đinh Gia H, Nguyễn Sỹ Th đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản vụ việc, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, các Bản kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 05 giờ ngày 14/02/2026 tại phòng ngủ của Hoàng Văn N ở tầng 2, số nhà 32A, ngõ 134, đường L, tổ 4D, phường Ph, tỉnh Ninh Bình; Hoàng Văn N, Dương Thanh T, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H cùng thống nhất góp tiền mua ma tuý sử dụng, chuẩn bị công cụ cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Nguồn gốc số ma túy các đối tượng sử dụng là do các đối tượng đã góp tiền để Nguyễn Thái S mua của Nguyễn Sỹ Th gồm 03 viên ma tuý kẹo và 02 chỉ ma tuý Ketamine với giá là 4.100.000 đồng.
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Dương Thanh T là người khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma túy, tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò thứ nhất; Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S, Đinh Gia H đều giữ vai trò đồng phạm thứ hai.
Đối với Nguyễn Sỹ Th chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gia tăng các tệ nạn xã hội. Nên cần phải xử nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Do vậy, hành vi của Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Sỹ Th đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thấy:
Về nhân thân: Các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Đinh Gia H, Nguyễn Sỹ Th đều là những đối tượng có tiền án, đã bị Tòa án xét xử về tội "Gây rối trật tự công cộng"; các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S có đặc điểm nhân thân xấu đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Văn N chưa được xoá án tích; bị cáo Đinh Gia H, Nguyễn Sỹ Th đang trong thời gian thử thách của án treo; bị cáo Dương Thanh T và Nguyễn Đức A đang chấp hành án treo. Vì vậy các bị cáo Hoàng Văn N, Đinh Gia H, Nguyễn Sỹ Th, Dương Thanh T, Nguyễn Đức A phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S, Đinh Gia H và Nguyễn Sỹ Th đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Dương Thành T có bà nội là Hà Thị Í được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất và có ông ngoại là Nguyễn Quốc H được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba; bị cáo Nguyễn Đức A có ông ngoại là Nguyễn Văn Ch được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, bị cáo có ông nội là Nguyễn Văn H được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì và có anh trai là Nguyễn Đức M được tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba; bị cáo Nguyễn Thái S có ông nội là Nguyễn Văn L được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất và Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhì, bị cáo có bố đẻ là Nguyễn Văn S1 được tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba, Huy chương quân kỳ quyết thắng, chiến sĩ thi đua cơ sở; bị cáo Đinh Gia H có bà ngoại là Vũ Thị B được tặng Huy chương vì sự nghiệp giao thông vận tải và Kỷ niệm chương TNXP - Xây dựng CNXH, bị cáo có bố đẻ ông Đinh Ngọc S2 được tặng Giấy khen. Vì vậy các bị cáo T, Đức A, S, H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá khách quan, toàn diện vụ án cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy, các bị cáo tuổi đời còn trẻ, tại phiên tòa đã thực sự ăn năn hối cải nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích.
Đối với tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý", bị cáo Dương Thanh T là đối tượng có tiền án và giữ vai trò thứ nhất nên áp dụng mức hình phạt nặng hơn các bị cáo khác cùng tội danh; các bị cáo Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H đều giữ vai trò ngang nhau nhưng các bị cáo Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn bị cáo Hoàng Văn N.
Đối với bị cáo Nguyễn Sỹ Th chịu trách nhiệm độc lập về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
Bị cáo Dương Thanh T đang chấp hành hình phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, bị cáo Nguyễn Đức A đang chấp hành hình phạt 25 tháng tù cho hưởng án treo, các bị cáo Đinh Gia H và Nguyễn Sỹ Th đang trong thời gian thử thách 36 tháng của án treo đều về tội "Gây rối trật tự công cộng", các bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian đang chấp hành án và trong thời gian thử thách nên phải tổng hợp hình phạt chung đối với các bị cáo T, Đức A, H và Th theo quy định tại Điều 56 và 65 Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy, các bị cáo Dương Thanh T, Nguyễn Đức A, Đinh Gia H, Hoàng Văn N và Nguyễn Thái S đều là những đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Sỹ Th có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nên cần áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Vison màu xám - đỏ - đen, BKS 90B3-554.92 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn L (bố đẻ bị cáo Nguyễn Đức A). Ngày 14/02/2026 Đức A tự ý lấy xe mô tô của ông Lam để đi liên hoan cùng bạn, sau đó gửi xe vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam rồi đi đến nhà N tổ chức sử dụng ma tuý, chiếc xe không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại chiếc xe trên cho ông L là có căn cứ.
- Đối với loa xách tay màu xanh, đèn lade màu đen kèm theo dây sạc là đồ vật các đối tượng thuê của anh Trần Mạnh C để sử dụng trong quá trình sử dụng ma tuý, anh C không biết các đối tượng thuê mục đích để sử dụng trái pháp chất ma tuý. Ngày 30/5/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại đồ vật trên cho anh là có căn cứ.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max là tài sản hợp pháp của Nguyễn Minh Q. Q đã sử dụng liên lạc với Dương Thanh T và Trần Mạnh C để thuê loa, đèn. Tuy nhiên Q không biết T nhờ Q thuê loa, đèn để sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 30/5/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại cho Q là có căn cứ.
- Đối với 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Văn N được sử dụng làm dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy nhưng là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo nên trả lại cho Hoàng Văn N.
- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 thu giữ của Hoàng Văn N; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max thu giữ của Nguyễn Thái S; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu xám thu giữ của Dương Thanh T; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức A; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max màu vàng nhạt thu giữ của Đinh Gia H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng thu giữ của Nguyễn Sỹ Th; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS 35AA-373.18 tạm giữ của Nguyễn Thái S; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS 29BB-11668 tạm giữ của Đinh Gia H và tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng đều là các công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy đều phải tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với toàn bộ số ma tuý hoàn trả sau giám định và dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số: A1163/TPT-CSMT ngày 29/04/2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đối với số tiền 16,000,000 VNĐ (Bằng chữ: Mười sáu triệu VNĐ) có trong tài khoản: 0975719972 tại: Ngân hàng TMCP Quân Đội của Nguyễn Sỹ Th, sinh năm 2005; CCCD số 035205009688; trú tại: Tổ dân phố B, phường Ph, tỉnh Ninh Bình.
- Đối với số tiền 4.100.000 đồng của bị cáo Nguyễn Sỹ Th do bị cáo bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thái S và Nguyễn Đức A chuyển vào tài khoản Ngân hàng của bị cáo nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với số ma tuý 0,918g Ketamine thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều khai nhận, số ma tuý trên do các bị cáo góp tiền mua về cùng nhau sử dụng, nếu không bị bắt quả tang thì sẽ sử dụng hết. Việc chưa sử dụng hết số ma tuý trên do bị Công an phát hiện bắt quả tang là ngoài ý muốn của các bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình không xử lý về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý đối với Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H là có căn cứ.
Về nguồn gốc số ma tuý: Nguyễn Sỹ Th khai đã mua của Phan Trần Duy A1, sinh năm 2003, trú tại: phường Ph, tỉnh Ninh Bình. Quá trình điều tra xác định trên địa bàn phường Ph, tỉnh Ninh Bình không có người nào tên Phan Trần Duy Ạ1 mà chỉ có người tên Phạm Trần Duy A1, sinh năm 2003, trú tại: Tổ dân phố 4B, phường Ph, tỉnh Ninh Bình. Làm việc với Phạm Trần Duy A1, Duy A1 khai ngày 14/02/2026 không bán ma tuý, không liên lạc, không quen biết với Nguyễn Sỹ Th. Tiến hành cho Nguyễn Sỹ Th nhận dạng người đã sử dụng Messenger "Duy A1' bán ma tuý cho Th ngày 14/02/2026 với Phạm Trần Duy A1 có lý lịch như trên, tuy nhiên Th không xác định được người đã liên hệ bán ma tuý cho Th là ai, có phải cùng một người không. Do đó không có căn cứ để xử lý đối với Phạm Trần Duy A1.
Đối với Nguyễn Minh Q là người được Dương Thanh T nhờ thuê lao, đèn, tuy nhiên Q không biết T nhờ thuê loa, đèn là để tổ chức sử dụng ma tuý, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình không xử lý đối với Q là có căn cứ.
Đối với Trần Mạnh C là người đã cho Q thuê loa, đèn nhưng C không biết nhóm của H thuê loa, đèn để sử dụng trái phép chất ma tuý, vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình không xử lý đối với Cường là có căn cứ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thanh T, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Đinh Gia H; khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Thanh T, Nguyễn Đức A, Đinh Gia H. Căn cứ khoản 1, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Sỹ Th. Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 129, Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S và Đinh Gia H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Sỹ Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Thanh T 08 (tám) năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý". Tổng hợp hình phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) về tội "Gây rối trật tự công cộng", buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024 (đối với thời gian đã bị tạm giữ về tội Gây rối trật tự công cộng).
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý". Tổng hợp hình phạt 25 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) về tội "Gây rối trật tự công cộng", buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 (chín) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026.
Xử phạt bị cáo Đinh Gia H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý". Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) về tội "Gây rối trật tự công cộng", buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ Th 04 (bốn) năm về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ) về tội "Gây rối trật tự công cộng", buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2026, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2023 đến ngày 19/4/2024 (đối với thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam về tội Gây rối trật tự công cộng).
- Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Sỹ Th số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước gồm: 06 điện thoại trong phong bì niêm phong ký hiệu KT01, KT02, KT03, KT04, KT06, phong bì ký hiệu 2298/KL-KTHS; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng trong hộp giấy niêm phong ký hiệu số 1155/KTHS, mặt trước phong bì có ghi: "Mẫu vật hoàn trả VV02"; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, đeo biển kiểm soát 35AA-373.18; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, đeo biển kiểm soát 29BB-11668.
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn N 01 thẻ căn cước công dân số 035207005624 mang tên HOÀNG VĂN N trong hộp giấy niêm phong ký hiệu số 1155/KTHS, mặt trước phong bì có ghi: "Mẫu vật hoàn trả VV02" .
- Tịch thu tiêu hủy số ma tuý hoàn trả sau giám định và dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý đựng trong phong bì và hộp giấy niêm phong ký hiệu số 1155/KTHS, mặt trước phong bì có ghi: Mẫu vật hoàn trả VV01, VV02 và VV03.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình ngày 24/6/2026).
- Truy thu của bị cáo Nguyễn Sỹ Th số tiền 4.100.000đ (Bốn triệu một trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số: A1163/TPT-CSMT ngày 29/04/2026 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đối với số tiền 16,000,000 VNĐ (Bằng chữ: Mười sáu triệu VNĐ) có trong tài khoản: 0975719972 tại: Ngân hàng TMCP Quân Đội của Nguyễn Sỹ Th, sinh năm 2005; CCCD số 035205009688; trú tại: Tổ dân phố B, phường Ph, tỉnh Ninh Bình để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Dương Thanh T, Hoàng Văn N, Nguyễn Đức A, Nguyễn Thái S, Đinh Gia H và Nguyễn Sỹ Th, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình; - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Ninh Bình; - Phòng THADS khu vực 5 - Ninh Bình; - Các bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hằng |