vanban.org

Bản án 179/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Vũ L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Vũ L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2023/HSST.
Ngày: 17/8/2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hiền.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp

Bà Trần Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc - thư ký Tòa án nhân dân

huyện N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023 Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 188/HSST ngày 01 tháng 8 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2023/HSST-QĐXX ngày 4 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Vũ L, sinh ngày 16/12/1994 tại tỉnh Kiên Giang. Nơi đăng ký HKTT: ấp C, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở: ấp Tr, xã Ph, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn D và bà Huỳnh Thị Ng. Bị cáo có vợ tên Lê Thị Kiều Th, sinh năm 1995 có 01 con sinh năm 2014, Tiền án: Ngày 12/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS, chấp hành xong ngày 18/01/2023.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện N ( có mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Vũ L là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/4/2023, L liên lạc với Trường (chưa rõ nhân thân) mua 02 gói ma túy với giá 500.000 đồng rồi cất giấu vào túi quần trước bên trái. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, L mang theo ma túy và đi bộ đến đoạn đường thuộc ấp Tr, xã Ph, huyện N, tỉnh Đồng Nai để sử dụng thì bị Công an xã Ph kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

+ 02 túi nylon hàn kín kích thước 01cm x 04cm và 02cm x 03cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (đã được niêm phong).

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen

Tại Kết luận giám định số 788/KL-KTHS ngày 21/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: M u tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2764 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 186/CT.VKS-HS ngày 31/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phan Vũ L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N v n giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị :

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017 ); xử phạt bị cáo Phan Vũ L từ 18 đến 24 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo qui định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên Tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo Phan Vũ L không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[ 1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Về trách nhiệm hình sự: Vào lúc 20 giờ 30 phút, ngày 16/4/2023 tại ấp Tr, xã Ph, huyện N, Phan Vũ L đã có hành vi tàng trữ 0,2764 gam, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội nên có đủ căn cứ và cơ sở để xác định hành vi của bị cáo Phan Vũ L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, có mức hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm tù. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố là có căn cứ nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu .

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết việc tàng trữ sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ sử dụng; cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Hiện nay, tệ nạn mua bán, tàng trữ sử dụng ma túy diễn ra hết sức phức tạp, lôi kéo nhiều người vào con đường nghiện ngập là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 mà bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Đối với Trường đã bán ma túy cho L, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (có khối lượng: 0,2427 gam đã được niêm phong số 788/KL-KTHS ngày 21/4/2023).

- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen cho Phan Vũ L do không liên quan đến vụ án.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Phan Vũ L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Phan Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015;

Xử phạt bị cáo Phan Vũ L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (có khối lượng: 0,2427 gam đã được niêm phong số 788/KL-KTHS ngày 21/4/2023).

- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen cho Phan Vũ L do không liên quan đến vụ án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ.HĐTP ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Vũ L phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ