vanban.org

Bản án 178/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 16/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Đình Long V (Rin em), Nguyễn Thông T (Thắng), Nguyễn Quốc H (Bi), Đàm Trần Thiên P (Vịt) cùng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ghi số 1285/2021-PC09; 01 (một) chai nhựa có gắn một tẩu hình phễu; 01 (một) gói thuốc lá Seven; 01 (một) quẹt gas màu đỏ; 01 (một) vỏ chai nước ngọt hiệu Sting. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Long V cùng đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phếp chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Lu…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Đình Long V (Rin em), Nguyễn Thông T (Thắng), Nguyễn Quốc H (Bi), Đàm Trần Thiên P (Vịt) cùng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2022/HS-ST
Ngày: 16/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Chu Văn B

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Nguyễn Đăng Khánh P – Phó Bí thư Thành đoàn thành phố Đà Lạt;

+ Ông Nguyễn Đức C – Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Đà Lạt.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị H – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn T - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 168/2022/TLST - HS ngày 03 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2022 đối với:

- Các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đình Long V (Rin em), sinh ngày: 12/9/2001, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 41 khu phố 4, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L; Chỗ ở: Tổ 41 khu phố 4, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Đình T, sinh năm: 1973; Con bà: Lê Thị Bích L, sinh năm 1977; Gia đình có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2004, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án; Tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam ngày 21/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đàm Trần Thiên P (Vịt), sinh ngày: 10/10/2003, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 46 khu phố 4, Phường 12, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở: Tổ 46 khu phố 4, Phường 12, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đàm Văn L, sinh năm: 1963; Con bà: Trần Thị H, sinh năm 1967; Gia đình có 05 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1987, bị cáo là nhỏ nhất.

Tiền án; Tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam ngày 21/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Thông T (Thắng), sinh ngày: 27/01/2001, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT: Số 84/12 T, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L; Chỗ ở: Số 84/12 T, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Trường T, sinh năm: 1975; Con bà: Hồ Thị S, sinh năm: 1976; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là lớn nhất, nhỏ nhất sinh năm 2010.

Tiền án; Tiền sự: không

Bị bắt tạm giam 21/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Quốc H (Bi), sinh ngày: 23/02/2002, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT: Số 115 T, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L. Chỗ ở: Số 115 T, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Nguyễn Q, sinh năm: 1973; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1979; Gia đình có 04 chị em, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2006, bị cáo là con thứ 3.

Tiền án; Tiền sự: không

Bị bắt tạm giam ngày 21/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Đàm Trần Thiên P:

+ Bà Dương Thị H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

+ Bà Lê Thanh L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đàm Trần Thiên P:

Ông Đàm Văn L, sinh năm 1963 và bà Trần Thị H, sinh năm: 1967.

Địa chỉ: Tổ 46 khu phố 4, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L.

Có mặt tại phiên tòa

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Đình T, sinh năm: 1973.

Địa chỉ: Tổ 41 khu phố 4, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L.

Có mặt tại phiên tòa

+ Bà Hồ Thị S, sinh năm: 1976.

Địa chỉ: Số 84/12 T, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L.

Có mặt tại phiên tòa

+ Ông Trần Duy X, sinh năm: 1969.

Địa chỉ: Tổ 17 T, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L.

Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Anh Trần Duy K, sinh năm: 2002.

Địa chỉ: Tổ 17 T, Phường 12, thành phố Đ, tỉnh L.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình Long V, Đàm Trần Thiên P, Nguyễn Thông T, Nguyễn Quốc H là bạn bè cùng xóm và nhiều lần sử dụng cần sa với nhau, riêng Phú là người chưa đủ 18 tuổi. Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 21/9/2021, Phú, Trí, Huy và Trần Duy K đến nhà Vũ ở địa chỉ Tổ 41, khu phố 4, phường 12, TP. Đà Lạt chơi, tại đây Vũ rủ Phú, Trí, Huy mua cần sa rồi đến quán cà phê để sử dụng thì cả ba đồng ý. Phú liên lạc qua Facebook Mesenger hỏi mua cần sa của một đối tượng có tài khoản là “Lê Vĩnh Lộc” thì được Lộc hẹn đến khu vực hẻm cạnh Bách hóa xanh trên đường Mê Linh, phường 9, Đà Lạt để giao nhận cần sa. Vũ điều khiển xe mô tô biển số 49B1 - 43464 chở Phú đến điểm hẹn với Lộc rồi dừng xe đứng đợi ở ngoài đường còn Phú đi vào trong hẻm gặp Lộc và mua nợ được 01 (một) gói nylon bên trong chứa cần sa với giá 100.000đ rồi cả hai mang về nhà Vũ. Một lúc sau, Kha điều khiển xe mô tô biển số 49B1 - 91859 chở Phú, Vũ điều khiển xe mô tô biển số 49B1 - 43464 chở Huy còn Trí điều khiển xe mô tô biển số 49B1

- 45730 cùng đến quán cà phê Hẻm tại số 5 Bùi Thị Xuân, phường 2, Tp Đà Lạt, Lâm Đồng. Trên đường đi, Vũ nói với Trí, Huy số tiền mua cần sa mỗi người góp là 25.000 đồng để trả lại cho Phú thì Trí, Huy đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, cả nhóm đến quán cà phê Hẻm, ngồi tại bàn ở khu vực dưới chân cầu thang rồi gọi nước uống. Lúc này, Vũ lấy gói cần sa để trong túi áo của Vũ ra để trên bàn và lấy một ít cần sa trong gói này ra ngắt, xé vụn còn Huy lấy giấy bạc trong bao thuốc lá hiệu Seven của Phú bỏ ra cuốn thành tẩu. Khoảng 10 phút sau, khi khách ở bàn bên cạnh đi về thì cả nhóm cùng di chuyển qua bàn này. Lúc này, Trí thấy có một chai nhựa hiệu Sting, phần thân chai có đục sẵn một lỗ của một nhóm khách bàn khác để lại thì lấy và đưa cho Huy để Huy gắn tẩu vào phần lỗ trên thân chai làm thành dụng cụ để hút cần sa. Sau đó, Huy dùng hột quẹt gas đốt rồi hút một hơi rồi đưa cho Trí, Trí sử dụng xong đưa tiếp cho Vũ, Vũ sử dụng xong đưa cho Phú. Khi Phú vừa hút một hơi và đang nhả khói thì bị Công an phường 2, Đà Lạt kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ vật:

- 01 (một) gói nylon màu trắng trong, một đầu có khóa dạng kẹp nhựa, có đường chỉ màu đỏ, kích thước khoảng 05cm x 08cm, bên trong gói này cành, lá thực vật khô nghi là ma túy.

- 01 (một) chai nhựa phần gần đáy chai có gắn một tẩu dạng hình phễu được làm từ vỏ giấy bạc là dụng cụ để Vũ, Huy, Trí, Phú sử dụng cần sa.

- 01 (một) quẹt ga màu đỏ;

- 01 (một) gói thuốc lá hiệu Seven, bị xé phần giấy bạc bên trong;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu vàng, màn hình bị nứt vỡ. Điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số: 0329.108.550 tạm giữ của Nguyễn Đình Long V;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen. Điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số: 0394.364.110 tạm giữ của Đàm Trần Thiên P.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh. Điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số: 0379.174.734 tạm giữ của Nguyễn Quốc H.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam Sung màu xanh. Điện thoại đã qua sử dụng, bên trong có gắn sim số: 0917.008.014 tạm giữ của Nguyễn Thông T.

- 01 (một) chai dạng chai nước ngọt hiệu Sting, phần thân chai có một lỗ nhỏ.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số: 49B1 - 91859, màu trắng - đen, số máy: KF4E1777567, số khung: 4115KK774915 thu giữ của Trần Duy K.

- 01 (một) xe moto hiệu Honda AirBlade, biển số: 49B1 – 43464, màu đen, số máy: JF46E5549189, số khung: 4619EY849109 thu giữ của Nguyễn Đình Long V.

- 01 (một) xe môto hiệu Honda AirBlade, biển số: 49B1 - 45730, màu vàng

- đen, số máy: JF46E7107925, số khung: 4612EZ479700 thu giữ của Nguyễn Thông T.

Tại Kết luận giám định số 1285/GĐ-PC09 ngày 27/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: Mẫu cành lá thực vật khô đựng trong một gói nylon gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,9420g, loại Cần sa.

Cần sa là chất ma túy, nằm trong Danh mục I, STT: 45, Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Người liên quan:

1. Ông Nguyễn Đình T là chủ sở hữu xe máy hiệu Honda AirBlade, biển số: 49B1 – 43464 bị thu giữ. Quá trình điều tra xác định ông Thiện cho Vũ mượn xe máy đi lại, không biết Vũ dùng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an TP Đà Lạt trả lại chiếc xe này cho ông Nguyễn Đình T. Ông Thiện đã nhận chiếc xe nêu trên và không có ý kiến gì thêm.

2. Bà Hồ Thị S là chủ sở hữu xe máy hiệu Honda AirBlade, biển số: 49B1 – 45730 bị thu giữ. Cơ quan CSĐT Công an TP Đà Lạt trả lại chiếc xe này cho bà Sâm. Bà Sâm đã nhận chiếc xe nêu trên và không có ý kiến gì thêm.

3. Ông Trần Duy X là chủ sở hữu xe máy hiệu Honda Vario, biển số: 49B1 - 91859 bị thu giữ. Cơ quan CSĐT Công an TP Đà Lạt trả lại chiếc xe này cho ông Xừng. Ông Xừng đã nhận chiếc xe nêu trên và không có ý kiến gì thêm.

Quá trình điều tra xác định vai trò các bị can trong việc tổ chức sử dụng ma túy như sau:

- Nguyễn Đình Long V: là người khởi xướng, rủ rê Đàm Trần Thiên P, Nguyễn Thông T, Nguyễn Quốc H sử dụng cần sa. Vũ là người nói Phú liên lạc với đối tượng bán cần sa, dùng xe máy chở Phú đi mua cần sa, sau đó cùng thỏa thuận với Huy, Trí số tiền góp mua cần sa.

- Đàm Trần Thiên P: là người bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Đình Long V về việc mua cần sa để cả nhóm sử dụng. Phú là người trực tiếp liên lạc và mua cần sa của đối tượng tên Lộc.

- Nguyễn Quốc H: Sau khi được Nguyễn Đình Long V rủ rê sử dụng cần sa, cùng góp số tiền 25.000 đồng mua cần sa để cả nhóm sử dụng thì Huy đồng ý. Huy lấy giấy bạc trong bao thuốc lá hiệu Seven mà Phú bỏ ra cuốn thành tẩu, là dụng cụ dùng để sử dụng cần sa.

- Nguyễn Thông T: Sau khi được Nguyễn Đình Long V rủ rê sử dụng cần sa, cùng góp số tiền 25.000 đồng mua cần sa để cả nhóm sử dụng thì Trí đồng ý. Trí thấy có một chai nhựa hiệu Sting, phần thân chai có đục sẵn một lỗ của một nhóm khách bàn khác để lại thì lấy và đưa cho Huy để Huy gắn tẩu vào phần lỗ trên thân chai làm thành dụng cụ để hút cần sa.

Tại cáo trạng số 153/CT-VKS ngày 22/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố các bị cáo Nguyễn Đình Long V, Nguyễn Thông T, Nguyễn Quốc H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Đàm Trần Thiên P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng và khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình Long V, Nguyễn Thông T, Nguyễn Quốc H, Đàm Trần Thiên P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng các điểm b, c Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Long V mức hình phạt từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù;

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Khoản 2 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thông T mức hình phạt từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Khoản 2 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H mức hình phạt từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 2 Điều 54; các Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đàm Trần Thiên P mức hình phạt từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Đàm Trần Thiên P với nội dung: Về tội danh và khung hình phạt thì người bào chữa không có ý kiến, thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, trong vụ án này bị cáo Phú là người chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu và có vai trò không đáng kể trong vụ án có đồng phạm, sau khi phạm tội bị cáo Phú đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Phú được hưởng mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo đều là những người biết rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép các chất ma túy, cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy là những hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 21/9/2021, Nguyễn Đình Long V rủ Đàm Trần Thiên P, Nguyễn Thông T, Nguyễn Quốc H mua cần sa rồi đến quán cà phê để sử dụng thì cả ba đồng ý. Phú trực tiếp tìm hỏi mua cần sa của một đối tượng có tài khoản là “Lê Vĩnh Lộc”, Vũ chở Phú đi mua nợ của Lộc được 01 (một) gói nylon bên trong chứa cần sa với giá 100.000đ rồi cả hai mang về nhà Vũ. Sau đó cả nhóm cùng với Trần Duy K đến quán cà phê Hẻm tại số 5 Bùi Thị Xuân, Phường 2, thành phố Đà Lạt. Trên đường đi, Vũ nói với Trí, Huy số tiền mua cần sa mỗi người góp là 25.000 đồng để trả lại cho Phú thì Trí, Huy đồng ý. Tại quán cà phê Hẻm, Vũ lấy gói cần sa để trong túi áo của Vũ ra để trên bàn và lấy một ít cần sa trong gói này ra ngắt, xé vụn còn Huy lấy giấy bạc trong bao thuốc lá hiệu Seven của Phú bỏ ra cuốn thành tẩu, Trí thấy có một chai nhựa hiệu Sting, phần thân chai có đục sẵn một lỗ của một nhóm khách bàn khác để lại thì lấy và đưa cho Huy để Huy gắn tẩu vào phần lỗ trên thân chai làm thành dụng cụ để hút cần sa. Sau đó, Huy dùng hột quẹt gas đốt rồi hút một hơi rồi đưa cho Trí, Trí sử dụng xong đưa tiếp cho Vũ, Vũ sử dụng xong đưa cho Phú. Khi Phú vừa hút một hơi và đang nhả khói thì bị Công an phường 2, Đà Lạt kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ vật.

Tại kết luận giám định số 1285/GĐ-PC09 ngày 27/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: Mẫu cành lá thực vật khô đựng trong một gói nylon gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,9420g, loại Cần sa.

Cần sa là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT: 45, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Đối chiếu lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình Long V, Nguyễn Thông T, Nguyễn Quốc H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại các điểm b, c Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Đàm Trần Thiên phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Trong vụ án, bị cáo Nguyễn Đình Long V có hành vi rủ rê các bị cáo khác cùng thực hiện tội phạm, trong đó có bị cáo Đàm Trần Thiên P là người chưa đủ 18 tuổi, Vũ là người trực tiếp xé nhỏ cần sa cho nhiều người cùng sử dụng nên có vai trò cao nhất.

Bị cáo Huy lấy giấy bạc trong bao thuốc lá cuốn thành tẩu, Trí lấy chai nhựa hiệu Sting làm thành dụng cụ để hút cần sa nên hai bị cáo này có vai trò tương đương với nhau trong vụ án, thấp hơn bị cáo Vũ.

Đối với bị cáo Đàm Trần Thiên P là người chưa đủ 18 tuổi, phạm tội do bị Vũ rủ rê, Phú là người trực tiếp đi mua cần sa cho cả nhóm sử dụng.

Trong vụ án này có Trần Duy K, sinh năm: 2002, trú tại: Tổ 17 Thái Phiên, phường 12, TP. Đà Lạt là người đi chung với nhóm bị cáo bị bắt quả tang vào ngày 21/9/2021. Quá trình điều tra xác định, Kha không có mục đích sử dụng cần sa, không tham gia bàn bạc việc sử dụng cần sa, khi đến quán cà phê Kha chỉ uống nước và bấm điện thoại, không biết các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy nên không có cơ sở xử lý đối với Kha.

Đối với Phạm Trung Hiếu, sinh năm 1984, trú tại: 05 Bùi Thị Xuân, phường 2, Đà Lạt là chủ quán cà phê Hẻm, địa điểm mà các bị cáo tổ chức sử dụng chất ma túy. Quá trình điều tra xác định anh Hiếu không biết các bị cáo tổ chức sử dụng cần sa nên không có cơ sở xử lý Hiếu về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với đối tượng tên Lộc đã bán cần sa cho Phú, khi mua cần sa Phú liên lạc qua mạng Facebook với Lộc sau đó xóa toàn bộ tin nhắn, Phú không biết nhân thân, lai lịch của Lộc nên không có cơ sở xác minh, xử lý.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Đình Long V xúi dục Đàm Trần Thiên P là người dưới 18 tuổi phạm tội nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo khác phạm tội không thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự..

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo cùng có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tất cả các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Quốc H có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến; bị cáo Đàm Trần Thiên P có cha tham gia quân đội phục vụ nhiệm vụ quốc tế nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Huy, Phú.

Bị cáo Đàm Trần Thiên P khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng các điều 90, 91 Bộ luật hình sự để xử lý đối với bị cáo Phú.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là coi thường pháp luật và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách Nhà nước độc quyền quản lý chất ma túy, góp phần duy trì tệ nạn ma túy và gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, do đó cần thiết phải xử phạt nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Đối với các bị cáo Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thông T, Đàm Trần Thiên P phạm tội lần đầu, tham gia với vai trò không đáng kể trong vụ án có đồng phạm nên áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được các bị cáo có thu lợi gì từ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ghi số 1285/2021-PC09 bao gói vật chứng là ma túy trước và sau giám định nhà nước cấm lưu hành nên tuyên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) chai nhựa có gắn một tẩu hình phễu; 01 (một) gói thuốc lá Seven; 01 (một) quẹt gas màu đỏ; 01 (một) vỏ chai nước ngọt hiệu Sting là vật dụng các bị cáo sử dụng ma túy nên tuyên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh của Trần Duy K; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu vàng của Nguyễn Đình Long V; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh của Nguyễn Quốc H; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh của Nguyễn Thông T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen của Đàm Trần Thiên P: bị cáo Phú đã sử dụng điện thoại này để liên lạc mua ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Đình Long V (Rin em), Nguyễn Thông T (Thắng), Nguyễn Quốc H (Bi), Đàm Trần Thiên P (Vịt) cùng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng các điểm b, c Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm o Khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Long V (Rin em) 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày 21/9/2021.

- Áp dụng các điểm b, c Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Khoản 2 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thông T (Thắng) 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 21/9/2021.

- Áp dụng các điểm b, c Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Khoản 2 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc H (Bi) 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù kể từ ngày 21/9/2021.

- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Khoản 2 Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Đàm Trần Thiên P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày 21/9/2021.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ghi số 1285/2021-PC09; 01 (một) chai nhựa có gắn một tẩu hình phễu; 01 (một) gói thuốc lá Seven; 01 (một) quẹt gas màu đỏ; 01 (một) vỏ chai nước ngọt hiệu Sting.

- Trả lại:

+ Anh Trần Duy K 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh.

+ Bị cáo Nguyễn Đình Long V 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu vàng.

+ Bị cáo Nguyễn Quốc H 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh.

+ Bị cáo Nguyễn Thông T 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen của Đàm Trần Thiên P.

(Các vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/7/2022 giữa Công an thành phố Đà Lạt và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đàm Trần Thiên P, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai. Người liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần có liên quan.

Cỡ chữ