vanban.org

Bản án 176/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Long An Tuyên án 19/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh T Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2022/HS-PT
Ngày: 19-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Những

Ông Trần Văn Quán

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 121/2022/TLPT-HS ngày 21 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Phan Thanh Th, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2022/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

- Bị cáo có kháng cáo: Phan Thanh Th, sinh năm 1978 tại Long An. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp 4, xã T.B, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông P.V.L, sinh năm 1943 và bà L.T.X, sinh năm 1943 (đã chết); vợ H.T.T, sinh năm 1988 và có 02 người con, sinh năm 2007 và năm 2010; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Phan Thanh Th: Luật sư L.K.D – Thành viên Đoàn luật sư tỉnh Long An (Có mặt).

- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: 14 bị cáo còn lại trong cùng một vụ án không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

Những người tham gia tố tụng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không triệu tập:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Trương Ngọc Nh, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp 4, xã T.B, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp H.T 2, xã Đ.T, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Tạm trú: Ấp 4, xã T.B, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

3. Huỳnh Thanh K, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp 5, xã T.B, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

4. Lê Trọng Nh, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp 5, xã T.B, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

5. Huỳnh Thanh T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp 7, xã N.C, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 12-2020, Phan Thanh Th, Huỳnh Thanh T, Trần Quốc P và Phạm Minh N thỏa thuận với nhau về việc cùng nhau đứng ra tổ chức đánh bạc, dưới hình thức cáp độ đá gà thắng thua bằng tiền cho những người tham gia cá cược tại bãi đất trống, cặp vách nhà của P, thuộc ấp 7, xã N.C, huyện Bến Lức để lấy tiền xâu chia nhau tiêu xài. Quy định lấy tiền xâu 10% trên số tiền đá sổ và 5% đá ngoài sổ. Để tổ chức cáp độ đá gà, Th kêu P mua băng keo để sẵn, T chuẩn bị cân đồng hồ, tấm nhựa, cựa gà do chủ gà tự đem theo; Th và T trực tiếp cáp độ, cân gà, làm trọng tài, lấy tiền xâu, đến cuối ngày chia tiền xâu cho Phan Thanh Th từ 100.000đ đến 200.000đ. Lúc không có T, thì Th kêu N làm trọng tài và chia tiền xâu từ 50.000đ đến 100.000đ cho mỗi trận làm trọng tài. Khi các con bạc muốn tham gia cá cược, thì chủ gà liên hệ trực tiếp với Th và T hoặc liên lạc thông qua số điện thoại di động (ĐTDĐ) của Th là 0966130548 và hẹn đến địa điểm trên để tổ chức cáp độ đá gà. Từ tháng 12-2020 đến ngày 15-01-2021, mỗi ngày Th, P, T, Nghiệp tổ chức từ 01 đến 03 trận; còn thứ bảy và chủ nhật từ 05 đến 06 trận gà. Thời gian Th, T, P, N tổ chức cáp độ đá gà cho các con bạc tham gia cá cược thắng thua bằng tiền được khoảng 10 ngày, nhưng không nhớ số người, số tiền cược mỗi trận. Th khai đã thu lợi khoảng 3.000.000 đồng, P khai thu lợi khoảng 400.000 đồng, T khai thu lợi khoảng 400.000 đồng và N làm trọng tài được 02 trận thu lợi 200.000 đồng. Qua điều tra, xác định được trong ngày 16-01-2021, Th kêu P đi mua 20 cuộn băng keo và trực tiếp tổ chức cáp độ 03 trận gà, N làm trọng tài cho những người tham gia cá cược được thua bằng tiền, cụ thể như sau:

Trận thứ 1: Khoảng 08 giờ ngày 16-01-2021, Th cáp độ gà của Hà Văn T đá với gà của Lê Long H với số tiền cá cược mỗi bên là 5.000.0000 đồng, (trong đó đá trong sổ 2.000.000 đồng và đá ngoài sổ 3.000.000 đồng). Sau khi cân gà xong do gà hai bên nặng bằng nhau (3,5kg) nên đá đồng. Bên gà của T, thì T tham gia cược 1.000.000 đồng, Th tham gia cược 500.000 đồng, Huỳnh Ngọc T tham gia cược 500.0000 đồng và 03 thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mỗi người cược 1.000.000 đồng, gà của T do Th băng cựa, thả gà. Phía bên gà của H, thì H tham gia cược 2.000.000 đồng và 03 thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tham gia cược 3.000.000 đồng thông qua H, gà của H do H băng cựa, thả gà, N làm trọng tài. Kết quả gà của T thắng, Th lấy tiền thắng của H 5.000.000 đồng chung cho T là 900.000 đồng, chung Huỳnh Ngọc T 450.000 đồng; Th thắng 500.000 đồng và lấy xâu 350.000 đồng, còn lại 2.800.000 đồng Th chung cho 03 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tham gia cược bên gà của T thắng. Tổng số tiền trận gà này thắng thua là 10.000.000 đồng.

Trận thứ 2: Khoảng 10 giờ cùng ngày sau khi trận gà thứ 1 kết thúc, Th cáp độ cho gà Nguyễn Thanh T đá với gà của Châu Văn H số tiền cá cược mỗi bên là 8.000.0000 đồng, (trong đó đá trong sổ 2.000.000 đồng và đá ngoài sổ 6.000.000 đồng) cho 12 người tham gia, gồm: H, Th, Hà Văn T, Trần Quốc V, Lê Hữu Q, Phạm Thanh T, Nguyễn Hoàng Hoài N, Huỳnh Công T, Huỳnh Ngọc Tài T; Bùi Nhật M và Dương Văn H. Trận này, Th trực tiếp cân gà, băng cựa, N làm trọng tài. Sau khi cân gà của H và gà của T nặng bằng nhau (3,1kg) nên đá đồng. Gà bên H, thì H tham gia cược 4.000.000 đồng, Hà Văn T cược 500.000 đồng, Th tham gia cược 500.000 đồng, Trần Quốc V tham gia cược 500.000 đồng, Lê Hữu Q tham gia cược 500.000 đồng, Phạm Thanh T tham gia cược 500.000 đồng, Nguyễn Hoàng Hoài N tham gia cược 500.000 đồng, Huỳnh Công T tham gia cược 500.000 đồng và Huỳnh Ngọc T tham gia cược 500.0000 đồng. Phía gà bên T gồm T tham gia cược 4.000.000 đồng; Bùi Nhật M tham gia cược 3.000.000 đồng và Dương Văn H tham gia cược 1.000.000 đồng. Gà của H do Th thả, gà của T do M thả gà. Kết quả gà bên H thua, Th gom tiền thắng chung cho T 8.000.000 đồng, T đưa lại M 3.000.000 đồng, đưa cho Dương Văn H 1.000.000 đồng và đưa Th tiền xâu 500.000 đồng. Tổng số tiền trận gà này thắng thua là 16.000.000 đồng.

Trận thứ 3: Th tiếp tục cáp độ cho gà của Nguyễn Văn T đá với gà của Hà Văn T, Th trực tiếp cân gà, băng cựa, N làm trọng tài. Số tiền cá cược mỗi bên tham gia 2.000.000 đồng đá trong sổ. Bên gà của Hà Văn T, T tham gia cược 1.000.000 đồng, N tham gia cược 250.000 đồng và Huỳnh Thanh K tham gia cược 250.000 đồng. Bên gà của Nguyễn Văn T, T tham gia cược 2.000.000 đồng.

Ngoài ra, trong trận gà này còn có các đối tượng tham gia cá cược hàng sáo bên ngoài không thông qua Th, P, N cá cược bên gà của Tài gồm Huỳnh Công Thi tham gia cược 500.000 đồng, Phạm Thanh Tuấn tham gia cược 500.000 đồng, Lê Trọng Nhân tham gia cược 200.000 đồng, Lê Hữu Quốc tham gia cược 500.000 đồng, Nguyễn Thanh Tú tham gia cược 500.000 đồng, Trương Ngọc Nhãn tham gia cược 1.000.000 đồng, Trần Quốc Vinh tham gia cược 500.000 đồng, Dương Văn Hải tham gia cược 1.000.000 đồng với các đối tượng bên ngoài (không rõ tên, địa chỉ) cá cược bên gà của Thắng. Trận gà đang diễn ra chưa có kết quả thắng, thua thì bị lực lượng Công an huyện Bến Lức lập biên bản.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2022/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh Th phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh Th 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Thanh Th 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Phan Thanh Th chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác; tuyên về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09 tháng 6 năm 2022, bị cáo Th kháng cáo và kháng cáo bổ sung xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo hay được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Th vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo cung cấp thêm các tài liệu gồm: Đơn xin xác nhận, với nội dung gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ bị cáo bị hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày, bị cáo là lao động chính, còn phải nuôi cha già hết tuổi lao động và hai con đang đi học và đơn xin bảo lĩnh có xác nhận của chính quyền địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Bị cáo Th kháng cáo đúng thời hạn và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Thanh Th phạm các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng pháp luật với mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo hoặc phạt tiền, có cung cấp “Đơn xin xác nhận” với nội dung gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ bị cáo bị hạn chế trong sinh hoạt hàng ngày, bị cáo là lao động chính còn phải nuôi cha già hết tuổi lao động và hai con đang đi học và “Đơn xin bảo lĩnh” có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới, chưa được cấp sơ thẩm xem xét, nhưng mức hình phạt cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo là khởi điểm của khung hình phạt, nên không có căn cứ giảm nhẹ thêm hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo cùng lúc bị xét xử hai tội và có một tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, nên không đủ điều kiện được hưởng án treo; gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị phạt áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Th.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Hành vi phạm tội của bị cáo chỉ thể hiện được ngày 16-01-2021, ngày này bị cáo thực hiện thay cho bị cáo T. Các ngày trước đó, bị cáo T là người thực hiện. Bị cáo tự khai nhận ra hành vi phạm tội. Hành vi tổ chức đánh bạc của bị cáo với các bị cáo khác chỉ mang tính đồng phạm giản đơn, tự bộc phát nhằm thu lợi bất chính. Về hành vi đánh bạc, cấp sơ thẩm chưa xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân tốt, có hoàn cảnh khó khăn và có “Đơn xin bảo lĩnh” của người thân cho bị cáo. Tuy nhiên, nếu được chấp nhận kháng cáo và phạt bị cáo bằng hình phạt tiền thì bị cáo cũng có khả năng thi hành án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, nếu được thì nên xem xét phạt tiền cho cả hai tội đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận bổ sung.

Lời nói sau cùng: Bị cáo mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo hoặc phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Phan Thanh Th kháng cáo đúng theo quy định của pháp luật tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Th khai nhận:

Khoảng tháng 12-2020, Phan Thanh Th cùng với Trần Quốc P và Phạm Minh N thỏa thuận cùng nhau đứng ra tổ chức cho người khác tham gia đá gà với nhau thắng thua bằng tiền, tại bãi đất trống, sát vách nhà Phan Thanh Th thuộc ấp 7, xã N.C, huyện Bến Lức. Trong đó, Th là người đứng ra rủ rê người tham gia đá gà, cáp độ gà, băng cựa, thả gà, thu tiền bên thua chung cho bên thắng và ngoài ra còn trực tiếp tham gia cá cược trong trận gà; còn N và P phụ mua băng keo, làm trọng tài phân thắng thua….Quy định thu 10% số tiền đá trong sổ và 5% số tiền đá ngoài sổ để chia nhau tiêu xài. Mỗi ngày trung bình tổ chức từ 01-03 trận, riêng ngày thứ bảy và chủ nhật thì khoảng 05-06 trận gà nhưng không nhớ cụ thể ai tham gia và cá cược như thế nào và đến ngày 16-01-2021 thì bị bắt quả tang, cụ thể:

Trận gà thứ nhất: Th cáp độ, băng cựa, thả gà cho gà của Hà Văn T đá với gà của Lê Long H với tổng số tiền cá cược là 10.000.000 đồng cho 10 người tham gia. Trong đó, Th tham gia 500.000 đồng bên gà của T. Kết quả bên gà của T thắng, Th thắng 500.000 đồng và lấy tiền xâu là 350.000 đồng.

Trận gà thứ 02: Th cáp độ cho gà của Nguyễn Thanh T đá với gà của Châu Văn H với tổng số tiền cá cược 16.000.0000 đồng cho 12 người tham gia. Trong đó, Th tham gia cá cược bên gà của H là 500.000 đồng. Kết quả gà bên H thua, Th thua 500.000 đồng và lấy tiền xâu là 500.000 đồng.

Trận gà thứ 03: Th cáp độ cho gà của Nguyễn Văn T đá với gà của Hà Văn T với tổng số tiền cá cược trong sổ là 4.000.000 đồng. Đá ngoài sổ tự thỏa Th không thông qua Th gồm có: Huỳnh Công T tham gia cược 500.000 đồng, Phạm Thanh T 500.000 đồng, Lê Trọng N 200.000 đồng, Lê Hữu Q 500.000 đồng, Nguyễn Thanh T 500.000 đồng, Trương Ngọc N 1.000.000 đồng, Trần Quốc V 500.000 đồng, Dương Văn H 1.000.000 đồng với các đối tượng bên ngoài (không rõ tên, địa chỉ). Trận gà đang diễn ra chưa có kết quả thắng, thua thì bị lưc lượng Công an bắt quả tang.

Xét, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung án sơ thẩm đã nêu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Th phạm tội “Tổ chức đánh bạc” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, là xét xử đúng người, đúng tội.

Xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo Th để tuyên phạt bị cáo với mức án như trên là thỏa đáng.

[3] Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo hoặc phạt tiền: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới như: Đơn trình bày về hoàn cảnh gia đình khó khăn và Đơn xin bảo lĩnh có xác nhận của UBND xã nơi cư trú. Xét thấy, bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 và có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo chỉ là khởi điểm của khung hình phạt và tại cấp phúc thẩm bị cáo chỉ cung cấp tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 là tình tiết không đáng kể. Do đó, không có căn cứ để xử bị cáo có mức án dưới khung hình phạt theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo.

Bị cáo bị xét xử cùng một lúc hai tội, trong đó có tội “Tổ chức đánh bạc” thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQHĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo, nên không chấp nhận.

Đối với kháng cáo xin được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính thấy rằng: Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, nên kháng cáo xin áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính không có căn cứ để chấp nhận.

[4] Từ những phân tích trên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Th. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Th như đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa. Những ý kiến, quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định như trên của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phan Thanh Th phải chịu 200.000 đồng do kháng cáo không được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Phan Thanh Th. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2022/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An, về hình phạt đối với bị cáo Phan Thanh Th.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh Th phạm các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.

- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017:

Xử phạt bị cáo Phan Thanh Th 01 (Một) năm tù.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017:

Xử phạt bị cáo Phan Thanh Th 06 (Sáu) tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Phan Thanh Th chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Phan Thanh Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ