vanban.org

Bản án 176/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản (Chƣa đạt).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 15 (Mƣờ i lăm) tháng tù. Tổng hợp hinh ̀ phạt 15 (Mƣờ i lăm) tháng tù t ại Bản án số 11/2017/HSST ngày 26/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện A , tỉnh Nghệ An. Buô ̣c bi ̣ cáo phải chấp hành hình ph ạt chung của hai bản án là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản (Chƣa đạt).
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 176/2017/HSST
Ngày 24-7-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Hồng Gấm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2017/HSST ngày 17 tháng 02 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 72/2017/HSST-QĐ ngày 14 tháng 3 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm 1990 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: Thôn 15, xã P, huyện A, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Thợ cơ khi; trình độ học vấn: Lớp 9/12;

́ quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; vợ tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2013; bị cáo có 05 chị em, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người bị hại: Ông Lê Văn N, sinh năm 1977; thƣờng trú: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1957; thƣờng trú: Thôn 15, xã P, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Ông Lê Văn T, sinh năm 1981; thƣờng trú: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1983; thƣờng trú: 5/D10, đƣờng 10, khu phố H, phƣờng T, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

3. Ông Lê Văn D, sinh năm 1986; thƣờng trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 15/9/2016, Nguyễn Văn L đi đến khu vực phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Khi L đi đến khu dân cƣ P thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã Dĩ An nhìn thấy xe môtô hiệu Honda Future biển số 36B5-116.13 của ông Lê Văn N dựng trƣớc một ngôi nhà đang xây dựng, xung quanh không có ngƣời trông coi. L đi bộ vào tiếp cận và dùng đoản phá ổ khóa của xe, nhƣng do xe có cài khóa cảm biến chống trộm phát ra tiếng còi hú nên những ngƣời xung quanh phát hiện đuổi theo L khoảng 200m và bắt đƣợc L cùng tang vật.

Theo kết luận định giá số 212/BB.ĐG ngày 26/9/2016 của Hội đồng định giá thị xã D kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là một xe môtô hiệu Honda Future biển số 36B5-116.13 trị giá 26.500.000 đồng đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận luận định giá số 211/BB.ĐG ngày 26/9/2016 của Hội đồng định giá thị xã D nêu trên.

Tại cáo trạng số 02/QĐ - KSĐT ngày 15 tháng 02 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 18 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 10 tháng đến 15 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời bị hại và những ngƣời làm chứng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 15/9/2016, Nguyễn Văn L đa cõ ́ hành vi lén lút chiếm đoa ̣t mô ̣t xe môtô hiệu Honda Future biển số

36B5-116.13 của ngƣờ i bi ̣ ha ̣i Lê Văn N , tài sản bị chiếm đoạt trị giá 26.500.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự thì “Ngƣời nào trộm cắp tài sản của ngƣời khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dƣới năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới hai triệu đồng nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Văn L chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại có giá trị 26.500.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Nguyễn Văn L thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h, p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp phạm tội chƣa đạt đƣợc quy định tại Điều 18 Bộ luật Hình sự nên cũng cần xem xét tình tiết này cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn L là ngƣời lao động chƣa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu, vào ngày 26/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyê ̣n A, tỉnh Nghệ An xƣ̉ pha ̣t 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản ; ngày 19/01/2014 bị Công an thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thƣơng tích.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại, tại cơ quan điều tra ngƣời bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt 15 tháng tù tại Bản án số 11/2017/HSST ngày 26/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An nên cần tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp theo quy định tại Khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản (Chƣa đạt).

Áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 18, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 15 (Mƣờ i lăm) tháng tù. Tổng hợp hinh

̀ phạt 15 (Mƣờ i lăm) tháng tù t ại Bản án số 11/2017/HSST ngày 26/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện A , tỉnh Nghệ An. Buô ̣c bi ̣ cáo phải chấp hành hình ph ạt chung của hai bản án là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2017.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 (Mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ