vanban.org

Bản án 176/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 16/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2017/HSST
Ngày 16 - 10 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Viê ̣t Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Trọng Phúc

2. Ông Vũ Tiến Thi ̣nh

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tam

Ngày 16 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái

Bình, tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Binh xét xử sơ thẩm công

̀ khai vu ̣ án hinh sự thu ̣ lý số : 169/2017/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2017, đối

̀ vớ i bi ̣ cáo:

Họ và tên: Khúc Thành L, sinh năm 1970 tại tỉnh T2; Nơi cư trú : Số nhà 13, tổ 12, phườ ng T, thành phố T1, tỉnh Thái Bình; số CMND: 15708344; nghề nghiê ̣p: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tô ̣c: Kinh; con ông: Khúc Anh P (đa chết) và con bà : Hoàng Thị X (đã

chết); có vợ Phạm Thị H và coñ Khúc Hoàng L1; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tại ngoại bị áp dụng biê ̣n pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/7/2017; có mặt.

- Ngườ i bi ̣ ha ̣i : Chị Đào Thị Minh T, sinh năm 1965; trú tại : Tổ18, phườ ng T, thành phố T1, tỉnh Thái Bình; vắng mă ̣t

NỘI DUNG VỤ Á N

Qua cá c tà i liê ̣u có trong hồ sơ vụ và quá trình xét h

ỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/6/2017 Khúc Thành L đi ra để khóa cổng đi ngủ thi nhin thấy cử a sổ phia sau nhà ông Đào Quý H sinh năm 1944 trú tại số

̀

̀

́ tổ 12, phường T, thành phố T1, tỉnh Thái Bình ở đối diện với cổng nhà L không đóng. L quan sát trên chiếc giườ ng kê sát cử a sổ có chiếc túi xách màu đỏ - đen (tài sản của chị Đào Th ị Minh T, sinh năm 1965; trú tại: tổ 18, phường T, thành phố T1 là con gái ông H) để ở phía cuối giường, trong nhà không có ai, L đa nã ̉y sinh ý đi ̣nh trô ̣m cắp chiếc túi . L lấy 02 thanh tre rút từ giàn mướ p nhà L và dùng dây nhựa màu vàng tron g bếp buô ̣c nối hai thanh tre la ̣i dài khoảng 2,1 m. L cầm thanh tre tiến sát đến cử a sổ nhà ông H và dùng tay phải cầm thanh tre đưa qua song cử a sổ và móc chiếc túi xách ra ngoài . L mở kiểm tra bên trong chiếc túi có m ột chiếc điê ̣n thoa ̣i Sam sung Galaxy S6 và số tiền 1.100.000 đồng. L lấy chiếc điê ̣n thoa ̣i và số tiền 1.100.000 đồng bỏ vào túi quần đang mă ̣c, vứ t chiếc túi ở giườ ng rồi cầm thanh tre vứ t lên giàn mướ p rồi về đi ngủ . Khoảng 03 giờ ngày 11/6/2017 L lấy điê ̣n thoa ̣i trô ̣m cắp được đăng nhâ ̣p vào tài khoản Zalo có sẵn trên điện thoại và thay đổi hình ảnh đại diện của chị T thành ảnh đại diện của L. Đến ngày 14/6/2017 L lấy điê ̣n thoa ̣i khác chụp ảnh chiếc điê ̣n thoa ̣i trô ̣m cắp đăng lên trang cá nhân Facebook của Khúc Thành L và viết kèm theo tiêu đề “Thu hoạch” . Ngày 15/6/2017 L đã bán chiếc điện thoại Samsung Galaxy S6 trô ̣m cắp được cho mô ̣t ngườ i nam thanh niên k hông biết tên tuổi đi ̣a chi ở khu vực quán nướ c via hè đườ ng Lý Bôn , phườ ng Đề Thám ,

̉

̉

thành phố Thái Bình , tỉnh Thái Bình lấy 800.000 đồng. Tiền bán điê ̣n thoa ̣i có được và số tiền 1.100.000 đồng trô ̣m cắp được L tiêu xài cá nhân hết , tổng tri ̣ giá tài sản 6.600.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 27/KLĐG-CATP ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận như sau: Tổng giá trị tài sản theo đề nghị của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình tại Quyết định số 31 ngày 07/7/2017 là 5.500.000 (năm triệu năm trăm nghìn) đồng.

Bị cáo Khúc Thành L đa khai nhâ ̣̃

n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của minh.

̀

Bản cáo trạng số 177/KSĐT ngày 01 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Khúc Thanh L về tô ̣i “Trộm cắ p tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh vẫn giữ nguyên

̀ quan điể m truy tố hành vi c ủa bi ̣ cáo Khúc Thành L về tô ̣i “ Trộm cắ p tà i sản ” theo khoản 1 Điều 138 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự và đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử:

̀

- Áp du ̣ng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999.

- Xử phạt bị cáo mứ c án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưở ng án treo, thờ i gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tinh từ ngày tuyên án sơ thẩm . Giao

́

bị cáo cho UBND phường T giám sát và giáo dục.

- Về xử lý vật chứng: Đối với hai thanh tre bị cáo L rút từ giàn mướp nhà bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự 1999, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cần tịch thu tiêu hủy.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho chị Đào

Thị Minh T số tiền 8.100.000 đồng chi ̣ T không có yêu cầu gi nên không đă ̣t

̀ ra giải quyết .

- Bị cáo phải chịu án phí hinh sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

̀

Bị cáo đồng ý vớ i quan điểm truy tố của vi ̣ đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát về tô ̣i

danh, mứ c hinh pha ̣t, trách nhiệm dân sự và không có ý kiến, tranh luâ ̣n gi.

̀

̀

Trướ c khi Hô ̣i đồng xét xử vào phòng nghi ̣ án, bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

̀

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ á n, căn cứ và o cá c tà i liê ̣u trong hồ sơ vụ á n đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tò, Hội đa

ồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh, Kiểm sát

̀ viên trong quá trinh điều tra , truy tố đã thực hiê ̣n đúng về thẩm quyền , trình tự,

̀ thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng . Do đó , các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đúng theo quy đ ịnh của pháp luật.

[2] Lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa hôm nay phù hợp vớ i lờ i khai của bi ̣

cáo tại giai đoạn điều tra , truy tố , phù hợp với các tài liệu , chứ ng cứ như : Biên bản ghi lời khai của người bị hại chị Đào Thị Minh T (bút lục số 34-41); biên bản quản lý đồ vật tài liệu (bút lục số 18-19); kết luâ ̣n đi ̣nh giá tài sản số 27 ngày 11/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Bình; cùng các tài liệu, chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án.

Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/6/2017, Khúc Thành L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S6 đã qua sử dụng trị giá 5.500.000 đồng và số tiền 1.100.000 đồng của chị Đào Thị Minh T, sinh năm 1965, trú tại: Tổ 18, phường T, thành phố T1để tại giường nhà ông Đào Quý H, sinh năm 1944 (bố đẻ chị T) ở Tổ 12, phường T, thành phố T1. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 6.600.000 đồng.

[3] Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắ p tà i sản” theo khoản 1 Điều 138 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự năm 1999 như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo phải chịu hình phạt theo quy định này.

Điều 138. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm …”

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thì thấy: Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của minh . Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đ ến

̀ quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, nên cần xử đối với bị cáo một mức án tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[5] Về nhân thân và các tinh tiết giảm nhe ̣, tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự

̀

̀ của bị cáo: Bị cáo là ngườ i có nhân thân tốt , bố bị cáo là ông Khúc Anh P được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng năm 1975, mẹ bị cáo là bà Hoàng Thị X được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba năm 1984. Bị cáo được hưởng bốn tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm b, h, g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 1999.

[6] Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo; về nhân thân và các tình tiết, giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy bị cáo L có khả năng tự cải tạo và việc để bị cáo L cải tạo ngoài xã hội không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo L đồng thời giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo L cải tạo và sửa chữa sai lầm, sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội là phù hợp với quy định của pháp luật, chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước ta.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với hai thanh tre bị cáo L rút từ giàn mướp nhà bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự 1999, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho chị Đào

Thị Minh T số tiền 8.100.000 đồng chi ̣ T không có yêu cầu gi nên không đă ̣t ra

̀ giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo Khúc Thành L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

1. Tuyên bô:́ Bị cáo Khúc Thành L phạm tội “Trộm cắ p tà i sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999. Phạt bi ̣ cáo Khúc Thành L 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/10/2017.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T1 giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Về trá ch nhiê ̣m dân sự: Không đặt ra giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự 1999, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, tịch thu tiêu hủy hai thanh tre là công cụ, phương tiện bị cáo L dùng vào việc phạm tội (biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03 tháng 10 năm 2017 giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình).

4. Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hi nh sự; Điều 23Nghị

̀ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Khúc Thành L phải nộp 200.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm.

́ ̀

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án s ơ thẩm 16/10/2017. Người bi ̣ ha ̣i vắng mă ̣t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày b ản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Nơi nhận:

̀

̉ SƠ THẨ

T.M HỘI ĐÔNG XÉ T XƯ

M

- Bị cáo;

Cỡ chữ