- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Gia K phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Gia K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 174/2017/HSST Ngày 28-12-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thanh Quảng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bạch Quảng
2. Bà Tô Thị lành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố P.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hóa, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 155/2017/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2017, đối với bị cáo:
Cao Gia K (tên gọi khác: Bo)
Sinh ngày 11-6-1999 tại Gia Lai; Nơi ĐKNKTT: Tổ 1, phường Y Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai và chỗ ở: 19 Phạm H Th, tổ 02, phường T S, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Thợi sơn; Con ông Cao Hữu Th và bà Trương Thị Thu T; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú ngày 19-7-2017, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
Những người tham gia tố tụng:
- Bị hại: Nguyễn Kỳ T, sinh ngày 22-01-2002 (tính đến ngày 19-7-2017 được 15 tuổi 6 tháng 27 ngày ). Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Kỳ T đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Đặng Thị M, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ 02, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Huỳnh Văn H, sinh ngày 01-8-2002 (tính đến ngày 19-7-2017 được 14 tuổi 11 tháng 18 ngày). Người đại diện hợp pháp của Huỳnh Văn H có bà Võ Thị Thu H và ông Huỳnh Vĩnh Th; cùng cư trú tại Tổ 3, phường Thống Nhất, thành phố P, tỉnh Gia Lai, là cha mẹ ruột. Có mặt.
2. Nguyễn Trần Đức V , sinh ngày 17-01-2002 (tính đến ngày 19-7-2017 được15 tuổi 8 tháng 2 ngày). Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Trần Đức V có bà Trần Thị Mỹ Trvà ông Nguyễn Vũ B; cùng cư trú tại Tổ 12, phường Y Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, là cha mẹ ruột. Vắng mặt.
3. Bà Trương Thị Thu Tr, sinh năm 1973; Cư trú tại: số 91A Ngô Thì Nhậm, phường T S, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Bá Th, sinh ngày 28-12-2001. Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Bá Th có bà Nguyễn Thị Thanh Tvà ông Nguyễn Văn T; cùng cư trú tại Tổ 12, phường Y Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
2. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987; Cư trú tại: Tổ 01, phường Hội Thương, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Cao Gia K bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19-7-2017, Cao Gia K cùng với Nguyễn Bá Th và Lộc (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến chơi điện tử tại tiệm Internet Play Zone Cao Nguyên ở số 187 Phan Đình Phùng, Tổ 2, phường T S, thành phố P thì gặp Huỳnh Văn H cũng chơi điện tử tại đây. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, do máy tính của K đang chơi hết tiền, nên K đi đến các máy tính khác đang chơi ở trong tiệm để xem. Lúc này K phát hiện tại bàn máy tính số 45 thấy có Nguyễn Kỳ T đang gục đầu xuống bàn ngủ và để chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F1s đang xạc pin trên bàn. K nhìn xung quanh thấy ai cũng đang tập trung chơi điện tử và không để ý nên K nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại của Tài. Sau đó, K đi đến chỗ H đang ngồi chơi điện tử và rủ H lấy trộm điện thoại, H đồng ý. Sau đó H đi đến vị trí bàn máy tính số 44 sát máy tính số 45 của Tài và rút điện thoại của Tài ra khởi dây xạc, còn K đi đến lấy chiếc điện thoại của Tài bỏ vào túi quần rồi đi ra khỏi tiệm Internet.
Khi đi ra khỏi tiệm Internet, K gặp Nguyễn Trần Đức V và nhờ V chở đi bán điện thoại, V đồng ý. Sau đó, V điều khiển xe mô tô biển số 81S1-035.75 chở K đến tiệm điện thoại Hoàn Thiện ở số 302 Hùng Vương, thành phố P. Tại đây, K bán điện thoại này cho anh Nguyễn Văn Q (là chủ tiệm) được 3.000.000 đồng. Sau khi bán điện thoại, V hỏi K chiếc điện thoại ở đâu có thì K trả lời do trộm cắp, đồng thời đưa cho V 250.000 đồng, V chở K đến trước Cung văn hóa tH nhi thuộc phường T S, thành phố P thì gặp Huỳnh Văn H, Lộc và Nguyễn Bá Th. K đưa cho Thành cất giữ 2.500.000 đồng trong số tiền vừa bán chiếc điện thoại trộm cắp, còn lại 250.000 thì K cất giữ. Toàn bộ số tiền bán chiếc điện thoại K, H, V và Th đã tiêu xài chung hết. Đến 20 giờ cùng ngày 19-7-2017 K ra đầu thú.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F1s mà anh Quý đã mua của Cao Gia K, sau khi mua anh Quý đã bán lại cho khách hàng, không rõ nhân thân lai lịch nên không thu hồi được.
Qua định giá, kết luận: chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F1s có giá trị 3.200.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 158/CTr-VKS ngày 06 tháng 11 năm 2017, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố bị cáo Cao Gia K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33, Điều 45, điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999; xử phạt Cao Gia K mức án từ 6 (sáu) tháng tù đến 9 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Cao Gia K khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản về việc người phạm tội ra đều thú, Kết luận giám định, phù hợp với các lời khai của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, thể hiện: khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19-7-2017, tại tiệm Interrnet Play Zone Cao Nguyên ở số 187 Phan Đình Phùng, Tổ 2 phường T S, thành phố P, Gia Lai, Cao Gia K đã cùng với đối tượng Huỳnh Văn H có hành vi lén lút chiế đọat chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F1s có giá trị 3.200.000 đồng của anh Nguyễn Kỳ T. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, Nguyễn Trần Đức V đã chở Cao Gia K đi bán chiếc điện thoại lấy tiền tiêu xài. Nguyễn Trần Đức V biết rõ chiếc điện thoại di động do trộm cắp mà có nhưng vẫn chở K đi giúp K tiêu thụ tài sản.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Cao Gia K đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tài sản của công dân, gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, nên cần được xử lý nghiêm.
Đối với Huỳnh Văn H là người đã cùng bị can Cao Gia K thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; Nguyễn Trần Đức V là người biết rõ chiếc điện thoại mà K bán là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn chở K đi tiêu thụ. Tuy nhiên, tính đến ngày H thực hiện hành vi trộm cắp, V thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì H và V chưa đủ 16 tuổi nên H và V không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Cao Gia K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; ngoài ra, bị cáo đã ra đầu thú giúp cơ quan pháp luật nhanh chóng xử lý vụ án và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 của bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Thấy rằng, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên cho phép bị cáo được hưởng chế định án treo để giúp bị cáo được tiếp tục lao động, học tập bên cạnh gia đình dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, bà Trương Thị Thu Tr là mẹ của Cao Gia K đã bồi thường cho bị hại Tài số tiền 1.830.000 đồng; các bà Võ Thị Thu H (mẹ của Huỳnh Văn H), bà Nguyễn Thị Thanh T(là mẹ của Nguyễn Bá Th) và bà Trần Thị Mỹ Tr(mẹ của Nguyễn Trần Đức V ) đã hoàn trả lại số tiền mà H, Thành, V và K đã tiêu xài chung trong số tiền bán chiếc điện thoại trộm cắp, đồng thời hỗ trợ thêm để hoàn trả cho bị hại tài tổng cộng 4.160.000 đồng. Bị hại Nguyễn Kỳ T không yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét quyết định trong bản án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cao Gia K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33; Điều 45; điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999;
Xử phạt: Cao Gia K 6 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28-12-2017).
Giao bị cáo Cao Gia K cho Ủy ban nhân dân phường Y Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí:
Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;
Buộc bị cáo Cao Gia K phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND thành phố P; - Công an thành phố P; - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Pleiku; - Bị cáo; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Thanh Quảng |