- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thu Hương phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chts ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi Thu H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Bùi Thu H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chấ…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật hình sự xử lý; Điều 47 Bộ luật hình sự xử lý
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 172/2023/HS-ST Ngày: 28 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: bà Vũ Thị V
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Quách Thị Thu H
2. Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Bích Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 153/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 01/2023/HSST-QĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thu H (tên gọi khác: không) sinh năm 1994 tại Nam Định; nơi cư trú: số nhà K, ngõ M, đường Đ, phố B, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân Th1 và bà Phạm Thị T1; chồng: Nguyễn Văn Q1 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 18/9/2023 đến ngày 26/9/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
1. Anh Nguyễn Văn B sinh năm 1988; nơi cư trú: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, “vắng mặt”.
2. Chị Vũ Thị V sinh năm 1992; nơi cư trú: phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, “vắng mặt”.
- Người chứng kiến: chị Đinh Thị M, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Thu H là người sử dụng ma túy, làm nghề Spa tại Ki ốt N, số S, đường Đ, phố C, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Ngày 12/9/2023, tại cửa hàng Spa, H được một người phụ nữ không quen biết tên Th ở huyện Y, tỉnh Nam Định là khách hàng của H cho 01 hộp giấy màu trắng vàng bên trong có 01 cân tiểu li màu đen trắng; 06 túi nilon màu trắng viền xanh, kích thước khoảng (2x2) cm, bên trong đều chứa ma tuý “ke”; 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (3x6) cm, bên trong chứa ma tuý “ke”; 01 túi nilon màu trắng viền đỏ, kích thước khoảng (3x6) cm, bên trong chứa 01 viên ma tuý “kẹo” và ma tuý “ke”. H nhận số ma túy trên và cất giấu vào túi quần bên trái của chiếc quần vải màu trắng, cạp quần có chữ FASHION FEAT treo trong nhà vệ sinh của quán để sử dụng dần.
Bùi Thu H có quan hệ quen biết với Nguyễn Văn B sinh năm 1988, nơi cư trú: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình và Vũ Thị V sinh năm 1992, trú tại phố V, phường T, thành phố N. Khoảng 09 giờ 50 phút, ngày 17/9/2023, khi H và B đang ở cửa hàng Spa của H thì H có gọi điện thoại cho V cùng đến cửa hàng của H để chơi, nói chuyện. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, H rủ B và V sang quán Karaoke V thuộc xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định để hát, uống bia, B và V đều đồng ý. Sau đó, cả ba đi xe taxi đến quán karaoke V để hát, uống bia đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì về cửa hàng của H và đi vào phòng thứ 2 trong quán để nằm nghỉ. Do bực tức vì cãi nhau với V nên H nảy sinh ý định sử dụng ma túy. H lấy 01 túi nilon màu trắng viền xanh kích thước khoảng (2x2)m, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy “ke” từ hộp giấy trong túi quần treo trong nhà vệ sinh từ trước rồi để trên mặt bàn kê cạnh giường ngủ, đồng thời nói với V và B: “Còn một chỉ ke, em lấy xào nốt để chơi”, B và V không nói gì. H mở ngăn kéo lấy 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính khoảng 20cm rồi dùng máy sấy tóc hơ nóng đĩa rồi đổ túi ma túy “ke” lên trên mặt đĩa, lấy chứng minh nhân dân của H nghiền nát số ma túy “ke” thành bột. Sau đó, H lấy ống hút được cuộn từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc đã có từ trước để trên bàn kê đầu giường trong phòng, rồi bật đèn, mở nhạc và cầm đĩa ma tuý lên sử dụng 02 đường ma túy “ke”. Sử dụng ma túy xong, H để đĩa ma túy xuống sàn nhà bên cạnh giường với mục đích ai có nhu cầu thì lấy sử dụng, rồi H nằm lên giường nghe nhạc.
Sau đó, B ngồi dậy cầm đĩa ma tuý ke lên để ở cuối giường và nói với V “V có chơi thì dậy mà chơi” rồi đi ra ngoài uống nước, V ngồi dậy cầm đĩa ma tuý và sử dụng 02 đường ma tuý “ke” rồi để đĩa xuống cuối giường và nằm nghe nhạc. B sau khi uống nước xong thì vào phòng lấy đĩa ma tuý sử dụng 02 đường ma tuý “ke” rồi để đĩa dưới gầm bàn trang điểm ở cuối giường và lên giường nằm nghe nhạc. Một lúc sau, H dậy cầm đĩa ma tuý tiếp tục sử dụng 02 đường ma tuý “ke” và đưa đĩa ma tuý cho B nhưng B không sử dụng mà để xuống gầm bàn trang điểm. Sau đó, H tiếp tục lấy đĩa ma tuý sử dụng 02 đường ma tuý “ke” nữa rồi để xuống gầm bàn trang điểm và lên giường nằm.
Hồi 19 giờ 20 phút cùng ngày, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - kinh tế - môi trường, Công an thành phố Ninh Bình phối hợp với Công an phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình tiến hành kiểm tra cư trú tại địa chỉ Ki ốt N, số S, đường Đ, phố C, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Tại thời điểm kiểm tra, tại Ki ốt N có 03 người gồm: Bùi Thu H, Nguyễn Văn B, Vũ Thị V có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Tiến hành khám xét khẩn cấp thu giữ nhiều đồ vật có liên quan:
- Thu giữ dưới gầm bàn trang điểm cạnh giường ngủ 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính khoảng 20cm, trong đĩa có chất tinh thể màu trắng, niêm phong đĩa sứ vào phong bì thư kí hiệu K1, chất tinh thể màu trắng trong đĩa được cho vào túi nilon màu trắng, niêm phong vào phong bì thư kí hiệu K3;
- 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Thu H có bám dính chất tinh thể màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn hình ống, được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong vào phong bì thư kí hiệu K2;
- Thu trên mặt giường ngủ phía ngoài cạnh bàn trang điểm 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (2x2) cm, miệng túi viền màu xanh, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng, niêm phong vào phong bì thư kí hiệu K4;
- Thu trên giường ngủ 03 điện thoại di động: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, lắp sim số 0913.131.222; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, lắp sim số 0911.468.222 và 0586.925.555; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, lắp sim số 0962.620.135, niêm phong vào phong bì thư kí hiệu K5;
- Thu trong túi xách màu trắng treo ở góc tường trong phòng số tiền 2.380.000 đồng, niêm phong vào phong bì thư kí hiệu K6;
- Thu trong phòng ngủ 01 loa nhãn hiệu MARSHALL màu nâu, kích thước khoảng (30x20x20) cm; 01 đèn chớp màu đen, kích thước khoảng (15x5x15) cm;
- Thu tại phòng vệ sinh phía trong cùng 01 quần vải màu trắng, dài khoảng 1m, cạp quần có chữ FASHION FEAT, kiểm tra bên trong túi quần bên trái phía trước có 01 hộp giấy màu trắng vàng, mặt hộp có nhiều chữ, kích thước khoảng (8x4x4)cm, bên trong có 01 cân tiểu li màu đen trắng, kích thước khoảng (1x3x6)cm; 05 túi nilon màu trắng, viền xanh, kích thước khoảng (2x2)cm, bên trong các túi đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (3x6)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ, kích thước khoảng (3x6)cm, bên trong có 01 viên dạng nén màu vàng, mặt có chữ F và chất tinh thể màu trắng, tất cả được niêm phong vào phong bì thư kí hiệu K7;
- Thu giữ tại camera treo trong nhà 01 thẻ nhớ nhãn hiệu IMOU 32GB, thu giữ tại camera treo ở hiên trước cửa nhà 01 thẻ nhớ nhãn hiệu KINGSTON 64GB, niêm phong 02 thẻ nhớ vào phong bì thư ký hiệu K8.
Ngoài ra, tiến hành tạm quản lý tài sản tại phòng Spa của Bùi Thu H gồm: 01 loa màu đen nhãn hiệu Harman Kardon; 01 đèn chớp màu trắng; 01 đèn nháy màu đen; 01 đĩa sứ màu trắng, hình bầu dục; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn hình ống, được cố định hai đầu bằng vỏ đầu lọc điếu thuốc lá. Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ và niêm phong các vật chứng theo quy định, sau đó đưa H, B và V về trụ sở công an phường để làm việc. Tại cơ quan điều tra, Bùi Thu H đã viết đơn xin đầu thú về hành vi cung cấp ma tuý cho B và V sử dụng cùng H.
Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng và các viên nén màu vàng thu giữ của Bùi Thu H, kết quả: chất tinh thể màu trắng thu giữ trên đĩa sứ có khối lượng 0,555 gam, ký hiệu M1; chất tinh thể màu trắng bên trong 05 túi nilon màu trắn,g viền xanh, kích thước (2x2) cm có khối lượng 3,985 gam, ký hiệu M2; chất tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng, kích thước (3x6) cm có khối lượng 2,43 gam, ký hiệu M3; chất tinh thể màu trắng bên trong túi nilon viền đỏ, kích thước (3x6) cm có khối lượng 3,85 gam, ký hiệu M5; viên nén màu vàng có khối lượng 0,395 gam, ký hiệu M4. Gửi các mẫu M1, M2, M3, M4, M5, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn hình ống, 01 chúng minh nhân dân được niêm phong vào phong bì ký hiệu K2 và 01 vỏ túi nilon màu trắng, miệng túi viền màu xanh, kích thước (2x2) cm được niêm phong vào phong bì ký hiệu K4 đều bám dính chất tinh thể màu trắng để giám định xác định chất ma túy và khối lượng ma túy.
Tại bản Kết giám định số 762/KL - KTHS - MT ngày 25/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận:
- Chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong mẫu gửi giám định ký hiệu K2 và mẫu ký hiệu K4 đều là ma túy, loại Ketamine. Lượng Ketamine bám dính ít, không xác định được khối lượng.
- Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3, M5 đều là ma túy, loại Ketamine có khối lượng lần lượt là: mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,5445gam; ký hiệu M2 có khối lượng 3,9833gam; ký hiệu M3 có khối lượng 2,4285gam; ký hiệu M5 có khối lượng 3,8282gam. Tổng khối lượng các mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M5 là 10,7845gam. Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
- Mẫu gửi giám định ký hiệu M4 có khối lượng 0,3996 gam, là ma túy, loại MDMA. MDMA là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 11; Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Hoàn trả lại 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Thu H; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 túi nilon còn lại của mẫu ký hiệu K4; Mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M5 còn lại đều là ma túy, loại Ketamine, mẫu ký hiệu M4 còn lại là ma túy, loại MDMA cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong 04 phong bì “Mẫu vật hoàn trả giám định” ký hiệu 762/KL – KTHS-MT.
Quá trình điều tra, Bùi Thu H đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, lắp sim số 0913.131.222 và số tiền 2.380.000 đồng thu giữ của Bùi Thu H; 01 loa màu đen nhãn hiệu Harman Kardon, 01 đèn chớp màu trắng, 01 đèn nháy màu đen, 01 đĩa sứ màu trắng, hình bầu dục, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn hình ống, cố định hai đầu bằng vỏ đầu lọc điếu thuốc lá tạm quản lý của Bùi Thu H. Quá trình điều tra xác định đây là những tài sản cá nhân của Bùi Thu H, không liên quan đến vụ án. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại những tài sản trên cho Bùi Thu H. H đã uỷ quyền cho bà Phạm Thị T1 sinh năm 1974, trú tại phố B, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình là mẹ đẻ của H nhận lại tài sản, bà T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, lắp sim số 0911.468.222 và 0586.925.555; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, lắp sim số 0962.620.135 thu giữ của Bùi Thu H. Quá trình điều tra xác định 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, lắp sim số 0911.468.222 và 0586.925.555 là tài sản của Vũ Thị V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, lắp sim số 0962.620.135 là tài sản của Nguyễn Văn B, đều không liên quan đến vụ án. Do đó, Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại chiếc điện trên cho Vũ Thị V, Nguyễn Văn B. V và B đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKSND-TPNB ngày 23/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Bùi Thu H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255 và điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Bùi Thu H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thu H từ 04 năm 09 tháng đến 05 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2023.
- Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 loa nghe nhạc nhãn hiệu MARSHALL màu nâu, kích thước (30x20x20) cm; 01 đèn chớp màu đen kích thước khoảng (15x5x15) ; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 20cm; 01 quần vải màu trắng, dài khoảng 1m, cạp quần có chữ FASHION FEAT; 01 cân tiểu li màu đen trắng; 01 thẻ nhớ nhãn hiệu IMOU màu đen 32G, 01 thẻ nhớ nhãn hiệu KINGSTON màu đen 64G; 01 hộp giấy màu trắng vàng; số ma tuý còn lại sau giám định, túi nilon cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.
Trả lại cho Bùi Thu H 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Thu H.
- Buộc bị cáo Bùi Thu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thu H thừa nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Văn B, Vũ Thị V và tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai; bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Thu H tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai người chứng kiến; phù hợp với vật chứng thu giữ là công cụ, phương tiện để sử dụng ma tuý, 10,7845 gam ma túy loại Ketamine, 0,3996 gam ma tuý loại MDMA; phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 17/9/2023, tại Kiốt N, số S, đường Đ, phố C, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, Bùi Thu H có hành vi chuẩn bị địa điểm, công cụ để sử dụng ma tuý và cung cấp ma tuý cho Nguyễn Văn B và Vũ Thị V cùng sử dụng với H. Đồng thời, Bùi Thu H còn cất giữ 10,7845 gam ma túy loại Ketamine và 0,3996 gam ma tuý loại MDMA để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi vi phạm của bị cáo đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội những khách thể được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi nêu trên của Bùi Thu H đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Đối với 2 người trở lên” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp có từ 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng của các chất ma túy đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h của khoản 1 Điều 249. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
……………………….
i) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
……………………….
b) Đối với 02 người trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Ngoài xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác. Để bảo vệ trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cần thiết.
[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: bị cáo đầu thú; không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình; cộng tác với cơ quan Công an, cung cấp nhiều thông tin có giá trị liên quan đối tượng có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý trên địa bàn, từ nguồn tin cung cấp của H ngày 14/11/2023 Công an thành phố Ninh Bình đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt giữ đối tượng Vũ Hoài L sinh năm 1983, trú tại phố B, phường V, thành phố N về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý; có ông ngoại là Phạm Xuân Ch là người có công với cách mạng được Chủ tịch nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì; tại cơ điều tra đã viết đơn xin đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nhình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng do cố ý nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc cải tạo trong trại giam mới đảm bảo răn đe, giáo dục.
[4] Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; Hội đồng xét xử thấy nên áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt nhưng trong khung hình phạt liền kề đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc số ma túy Ketamine và MDMA thu giữ của Bùi Thu H, quá trình điều tra H khai được một người phụ nữ là khách hàng của H tên Th, ở huyện Y, tỉnh Nam Định cho vào khoảng ngày 12/9/2023 tại quán Spa của H, H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nhà người phụ nữ này do vậy không có cơ sở xác minh, làm rõ.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự xử lý như sau:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 loa nghe nhạc nhãn hiệu MARSHALL màu nâu, kích thước (30x20x20)cm; 01 đèn chớp màu đen kích thước khoảng (15x5x15)cm; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 20cm; 01 quần vải màu trắng, dài khoảng 1m, cạp quần có chữ FASHION FEAT; 01 cân tiểu li màu đen trắng; 01 thẻ nhớ nhãn hiệu IMOU màu đen 32G, 01 thẻ nhớ nhãn hiệu KINGSTON màu đen 64G; 01 hộp giấy màu trắng vàng; số ma tuý còn lại sau giám định, túi nilon cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.
- Trả lại cho Bùi Thu H 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Thu H.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Văn B và Vũ Thị V, quá trình điều tra xác định khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/9/2023 tại Kiốt N, số S, đường Đ, phố C, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, B và V được H rủ sử dụng trái phép chất ma tuý, tại đây B và V không có hành vi giúp sức trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của H. Do vậy, không có căn cứ xử lý đối với B và V. Công an thành phố Ninh Bình đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính phạt 1.500.000 đồng đối với Nguyễn Văn B và Vũ Thi V về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với chị Bùi Thị Ng sinh năm 1996, trú tại phố N, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình là em gái của Bùi Thu H và là người thuê quán Spa có địa chỉ tại Kiốt N, số S, đường Đ, phố C, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình từ tháng 9 năm 2022, đến tháng 8 năm 2023, Nga giao lại quán cho H quản lý và sử dụng. Quá trình điều tra xác định chị Nga không biết và không liên quan đến hành vi H cất giấu và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với Bùi Thị Ng.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo bị tuyên là có tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: bị cáo Bùi Thu H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Bùi Thu H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/9/2023.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 loa nghe nhạc nhãn hiệu MARSHALL màu nâu, kích thước (30x20x20)cm; 01 đèn chớp màu đen kích thước khoảng (15x5x15)cm; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đường kính 20cm; 01 quần vải màu trắng, dài khoảng 1m, cạp quần có chữ FASHION FEAT; 01 cân tiểu li màu đen trắng kích thước (1x3x6)cm; 01 thẻ nhớ nhãn hiệu IMOU màu đen 32G, 01 thẻ nhớ nhãn hiệu KINGSTON màu đen 64G; 01 hộp giấy màu trắng vàng; số ma tuý còn lại sau giám định, túi nilon cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.
- Trả lại cho Bùi Thu H 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Thu H.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
3. Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (28/12/2023); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND TP. Ninh Bình; - CA TP. Ninh Bình; - CCTHADS TP.Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - TAND tỉnh Ninh Bình; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình; - Lưu VP, HS. | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hiền |