- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 172/2021/HS-ST. Ngày 13/5/2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng B Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Hòa;
Ông Trần Ngọc Thực.
- Thư ký phiên tòa: Ông Danh Đời - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2021, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 224/2021/TLST-HS ngày 05/4/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1682/2021/QĐXXST-HS ngày 15/4/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Ngọc B, sinh năm 1970 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: 532 Quốc lộ 1A, Khu phố 1, phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Nhân viên dọn phòng khách sạn; trình độ học vấn: 7/12; Con Vũ Đình Thuật (chết) và bà Vũ Thị Thoái (chết). Chồng tên Nguyễn Ngọc Cường (sinh năm 1968); có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình đi học đến lớp 7/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình, sau đó đi làm ở nhiều nơi cho đến ngày phạm tội. Bị cáo bị tạm giam tại Trại giam Chí Hòa, Công an Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 17/12/2020, (có mặt).
- Người bị hại: Bà Phạm Phương Tâm, quốc tịch Mỹ, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Ngọc B là nhân viên dọn phòng làm việc tại khách sạn The White (địa chỉ số 55 đường Thủ Khoa Huân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). Khoảng 10 giờ ngày 27/6/2017, B thấy bà Phạm Phương Tâm (Quốc tịch Mỹ) là khách thuê phòng 605, tầng 6, khách sạn The White đi ra khỏi phòng nên đã dùng chìa khóa tổng của khách sạn đến mở cửa phòng 605 để dọn dẹp. Khi mở cửa vào trong phòng, B quan sát và thấy 01 túi xách màu vàng kim để trên bàn trang điểm và 02 valy hành lý màu đen để trên ghế, biết bà Tâm chưa trả phòng và tài sản không có người trông coi nên B nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà Tâm. B đi đến bàn trang điểm nơi bà Tâm để túi xách màu vàng kim, 2 tay cầm túi xách rồi dùng tay phải mở khóa túi xách thì phát hiện bên trong có tiền ngoại tệ USD và tiền Việt Nam, tất cả đều được gấp làm đôi; B rút 04 tờ tiền có mệnh giá 100 USD rồi bỏ vào túi áo bên phải B đang mặc. Sau đó, B lấy 04 tờ tiền này nhét xuống đáy túi ny lông có chữ Hiut đựng các dụng cụ dọn dẹp vệ sinh được treo trên xe đẩy của khách sạn cung cấp cho B để dọn dẹp, rồi tiếp tục làm việc. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi trở về phòng, bà Tâm phát hiện bị mất tiền nên báo quản lý khách sạn là ông Nguyễn Văn Bắc. Qua kiểm tra hệ thống camera, ông Bắc phát hiện B là người duy nhất vào phòng của bà Tâm nên ông Bắc và bà Tâm đưa B đến Công an phường Bến Thành, Quận 1 trình báo sự việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Xác minh tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả: Tỷ giá mua thương mại USD/VND ngày 27/6/2017 là 22.680,00/1 USD.
Về dân sự: Bà Phạm Phương Tâm đã nhận lại số tiền 400 USD bị trộm cắp nên ngày 28/6/2020 đã có đơn bãi nại, không yêu cầu gì khác.
Tại Bản cáo trạng số 183/CT-VKS-P2 ngày 30/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Vũ Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo B phạm tội có tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “chưa có tiền án, tiền sự” và “tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại cũng có đơn xin bãi nại” theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo B từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Về tang vật trong vụ án, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo B không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, thừa nhận bản luận tội đối với bị cáo là có cơ sở, tuy nhiên bị cáo cho rằng trước đây do không hiểu biết pháp luật nên trong thời gian bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú trong quá trình điều tra, bị cáo đã thay đổi chỗ ở, không trình báo với cơ quan điều tra nên bị truy nã. Trong quá trình điều tra lại vụ án, bị cáo đã rất thành khẩn khai báo, tích cực phối hợp với cơ quan điều tra để sớm làm sáng tỏ vụ án, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và cân nhắc đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, thật sự ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, áp dụng hình phạt với mức án khoan hồng, để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn công khai, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, người bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào kết quả xét hỏi, thẩm tra cho thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra vụ án và phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 27/6/2017, tại phòng số 605, khách sạn The White (địa chỉ số 55 đường Thủ Khoa Huân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh), lợi dụng khi bà Phạm Phương Tâm đi ra khỏi phòng, bị cáo B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Tâm số tiền 400 USD (tương đương 9.072.000 đồng).
Như vậy, với mục đích và động cơ cá nhân muốn có tiền để tiêu xài, bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tiền của bà Phạm Phương Tâm. Hành vi trên của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo đã chiếm đoạt được số tiền, hành vi phạm tội đã hoàn thành. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở kết luận bị cáo Vũ Ngọc B đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là hoàn toàn đúng với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có tuổi đời còn trẻ, sức khỏe bình thường, đang có công ăn việc làm ổn định, nhưng do lòng tham nên đã cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác bất hợp pháp. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nhằm đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả, trả lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho người bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); ngoài ra, quá trình điều tra và giải quyết vụ án, người bị hại cũng có đơn xin bãi nại, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên cùng với nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có điều kiện cải tạo tốt, trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Xét thấy trong quá trình điều tra, người bị hại đã nhận lại đầy đủ toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Các vật chứng thu được gồm: 01 túi nylon có chữ Hiut (của khách sạn The White); 01 áo sơ mi trắng ngắn tay và 01 quần dài màu đen (của bị cáo B), xét thấy các tài sản này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Vũ Ngọc B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc B 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2020.
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Ngọc B 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 túi nylon có chữ Hiut; 01 áo sơ mi trắng ngắn tay và 01 quần dài màu đen.
Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2021/303 ngày 12/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Vũ Ngọc B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo Vũ Ngọc B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Cục Thi hành án dân sự TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Thi hành án hình sự TAND TP.HCM; - Trại giam; - Bị cáo; - Người bị hại; - Phòng PC53 – Công an TP. Hồ Chí Minh; - UBND phường Tam Bình, TP. Thủ Đức, TP.HCM; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (18). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng B Sơn |