vanban.org

Bản án 17

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

m s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật h ình sự đối với tất cả các bị cáo.

àng Việt H , Nguyễn Văn Đ ; khoản 2, Điều 51 Bộ luật h ình sự đối với bị cáo Ho àng Việt H , Nguyễn Minh N; điểm h, khoản 1, Điều 52, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vụ án Hoàng Việt H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? m s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật h ình sự đối với tất cả các bị cáo.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật h ình sự; Điều 38 Bộ luật h ình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H À TRUNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 17/2021/HS-ST
Ngµy: 26-3-2021

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG H

ÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phi ên tòa: bà Trịnh Thanh H ương.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Dương Đông Phong và ông Tr ần Ngọc Châu

- Thư ký phiên tòa: ông Vũ Văn Đức - Thư k ý Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh H óa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Th êm - Kiểm sát vi ên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở T

òa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự thụ lý số

09/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021, theo Quyế t định đ ưa v ụ án ra xét xử số 12/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2021, đối với các bị cáo :

1. Hoàng Việ t H; sinh năm 1989; tạ i huyệ n H, tỉ nh T; nơi cư trú: thôn Đ, xã Y, huyệ n H, tỉ nh T; nghề nghiệ p: lao độ ng tự do; trình độ văn hóa: 12/12; d ân tộ c: Kinh; tôn giáo: không; quố c tị ch: Việ t Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Mai Thị H ; bị cáo có vợ l à Nguyễn Thị Hải Y và có 02 con; tiề n án, tiề n sự : không.

Bị cáo b ị tạ m giữ từ ngày 30/8/2020 đế n ngày 08/9/2020 chuyể n tạ m giam cho đế n nay, có mặt .

2. Nguyễ n Đạ i T; sinh năm 1991; tạ i xã H (nay là xã Y), huyệ n H, tỉ nh T; nơi cư

trú: tiể u khu 4, thị trấ n H, huyệ n H, tỉ nh T; nghề nghiệ p: Lao độ ng tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộ c: Kinh; tôn giáo: không; quố c tị ch: Việ t Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị N ; bị cáo có vợ l à Đào Thị T và có 01 con.

Tiề n án: Ngày 21/7/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện H à Trung xử phạt 24 tháng tù cho hư ởng án treo , thời gian thử thách 48 tháng về tội “gây rối trật tự công cộng ” . Bị cá o chưa ch ấp h ành xong bản án .

Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 25/8/2016 bị cáo bị Công an huyện H à Trung xử phạt vi phạ

m hành chính số tiền 2.500.000 đồng

về h ành vi xâm hại đến sức khỏe

của ngư ời khác. Bị cáo chấp h ành xong quyết định ng ày 12/9/2016.

Tạm giữ, tạm giam: b

ị c áo bị tạm giữ từ ng

ày 30/8/2020 đến ng ày 08/9/2020 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.

3. Nguyễ n Văn Đ, sinh năm 2000; tạ i xã H, huyệ n H, tỉ nh T; nơi cư trú: thôn K, xã H, huyệ n H, tỉ nh T; nghề nghiệ p: lao độ ng tự do; trình độ văn hóa: 11/12; d ân tộ c: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quố c tị ch: Việ t Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị N ; bị cáo ch ưa có v ợ; t iề n án, tiề n sự : không;

Bị c áo bị tạm giữ từ ng

ày 30/8/2020 đến ng ày 08/9/2020 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H à Trung cho đến nay, có mặt.

4. Nguyễ n Minh N; sinh năm: 1990; tạ i xã H (nay là xã Y), huyệ n H, tỉ nh T; nơi cư trú: thôn Đ, xã Y, huyệ n H, tỉ nh T; nghề nghiệ p: Lao độ ng tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộ c: Kinh; tôn giáo: không; quố c tị ch: Việ t Nam; con ông Nguyễn Minh L và bà Phùng Thị H ; bị cáo có vợ l à Nguyễn Thúy H và có 02 con; tiền án, tiền sự : không.

Nhân thân: Ngày 17/10/2017 bị Công an huyện H à Trung xử phạt vi phạm h

ành chính số tiền 2.500.000 đồng về h

ành vi xâm hại đến sức khỏe ng

ư ời khác. Bị cáo chấp h ành xong quyết định ng ày 22/9/2020.

Bị cáo bị tạ m giữ từ ngày 30/8/2020 đế n ngày 08/9/2020 chuyể n tạ m giam cho đế n nay, có mặt .

5. Mai Thư ợ ng H, sinh năm: 1998; tạ i huyệ n H, tỉ nh T; nơi cư trú: thôn Đ, xã Y, huyệ n H, tỉ nh T; nghề nghiệ p: lao độ ng tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộ c: Kinh; tôn giáo: không; quố c tị ch: Việ t Nam; con ông Mai Văn T và bà Trần Thị H ; tiề n án, tiề n sự : không; bị cáo ch ưa có v ợ.

Bị cáo b ị tạ m giữ từ ngày 30/8/2020 đế n ngày 08/9/2020 chuyể n tạ m giam cho đế n nay, có mặt.

Ngư ời làm chứng :

1. Anh Nguyễn Duy T , sinh năm 1979; nơ i cư trú: Số nh à 21, tiểu khu 5, thị trấn

H, huyện H , tỉ nh T, vắng mặt.

2. Ạnh Nguyễn Văn L , sinh năm 1993; nơ i cư trú: thôn Đ, xã Y, huyện H , tỉ nh T, vắng mặt.

3. Anh Thiều Tiến T , sinh năm 1991; nơ i cư trú: thôn Đ, xã L, huyện H , tỉnh T , vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Thanh B , sinh năm 1996; nơ i cư trú: thôn Đ, xã Y, huyệ n H, tỉ nh T, vắng mặt.

5. Anh Nguyễn Văn Q , sinh năm 1991; nơ i cư trú: tiểu khu 4, thị trấ n H, huyệ n H, tỉ nh T, vắng mặt.

6. Chị L ê Thị T , sinh năm 1992; nơ i cư trú: thôn 5, xã Q, thị x ã B, tỉ nh T, vắng mặt.

7. Chị Trịnh Thị C (tên gọi khác V õ Ngọc M ), sinh năm 2002; nơ i cư trú: Bản Ú , xã Huy T, huyện P , tỉnh S , vắng mặt.

8. Chị Quách Thị Hồng N , sinh ngày 21/7/2004; nơ i cư trú: Xóm C, xã Ân N, huyện L , tỉnh H , vắng mặt.

9. Chị Trần Thanh Minh T , sinh ngày 30/9/2004; nơ i cư trú: Số 90/01 ấp 1, x ã P, huyện C , tỉnh L , vắng mặt.

10. Anh Lý Văn H, sinh năm 1991; nơ i cư trú: thôn C, xã Y, huyện H , tỉ nh T, vắng mặt.

11. Chị L ê Thị H (tên gọi khác Lê Thị L ), sinh năm 2002; nơi cư trú: thôn 3, x ã Th, huyện Th , tỉnh T , vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đ ư ợc tóm tắt nh ư sau :

Vào hồi 00 giờ 10 phút , ngày 30 tháng 8 năm 2020, tổ công tác Công an huyện Hà Trung phối hợp với công an x

ã Y, huyện H tiến h ành kiểm tra quán c ầm đồ 68 thuộc thôn Đ, xã Y, huyện H, tỉnh T , phát hiện Nguyễn Duy T , Mai Thư ợng H , Quách Thị Hồng N , Trần Thanh Minh T , Lê Thị H (tên gọi khác L ê Thị L ), Lê Thị T , Nguyễn Minh N, Hoàng Việt H , Nguyễn V ăn Đ, Nguyễn Đại T , Nguyễn V ăn L, Nguyễn Thanh B, Thiều Tiến T , Trịnh Thị C (tên gọi khác V õ Ngọc M ) và Nguyễn V ăn Q đang sử dụng trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) túi nilon m àu trắng có viền đỏ, b ên trong có chứa một vi ên nén hình trụ tr òn màu hồng nhạt v à chất bột m àu hồng nhạt dạng cục vụn nghi l à ma túy ở cạ nh chỗ ngồi của Ho

àng Việt H , đư ợc ni êm phong ký hiệu M2; 01 (một) đĩa sứ m àu trắng kích th ư ớc khoảng 23cm, b ên trong đĩa có chứa chất bột dạng t inh thể màu trắng ngh i là ma túy, đư ợc ni êm phong ký hiệu M1; 01 (một) ống hút đư ợc cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 100.000

đ (Một tr ăm nghìn đồng) , ở hai đầu đư ợc cố định bằng vỏ

điếu thuốc lá; 01(một) thẻ nhựa cứng m

àu đen có dòng chữ VINGROUP kích thư ớc 8x5cm để ở cửa sổ ph

òng ngủ; 01 (một) bật lửa ga; 01 (một) túi nilon màu trắng có viền đỏ kích th ư ớc 2x3cm; 01 (một) túi nilon m àu trắng có viền đỏ kích th ư ớc 4x6cm . Ngoài ra, cơ quan đi ều tra c òn thu giữ 04 chiếc điện thoại di động gồm: 01 điện thoại Iph

one 8 plus màu bạc; 01 điện thoại Ip hone X màu đen; 01 điện thoại Oppo A5 màu đen; 01 điện thoại Iphone Xs Max màu đen, tất cả đều đ ã qua sử dụng .

Xét nghiệm n ư ớc tiểu đối với Mai Thư ợng H , Trần Thanh Minh T , Thiều Tiến T , Nguyễn V ăn Q, Nguyễn Duy T , Lê Thị T , Nguyễn Minh N, Nguyễn V ăn Đ, Nguyễn Đại T , Nguyễn V ăn L, Nguyễn Thanh B , Hoàng Việt H đều d ươ ng tính với ma túy loại MET và MDMA.

Quách Thị Hồng N , Lê Thị H , Trịnh Thị C (tên gọi khác V õ Thị M) đều âm tính với ma túy.

Tại bản k ết luận giám định số: 6035/C09 -TT2 ngày 18/09/2020 của Viện khoa học h ình sự Bộ Công an kết luận:

- Chất bột m àu trắng trong phong b ì ký hiệu M1 gửi giám định l à ma túy, loại: Ketamine, khối l ư ợng: 0,265 gam (không phẩy hai sáu năm gam);

- Viên nén màu hồn g nhạt v à chất bột m àu hồng nhạt trong phong b ì ký hiệu M2 gửi giám định l à ma túy, loại: MDMA; tổng khối l ư ợng: 0,712 gam (không phẩy bảy một hai gam).

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận: Tối ng ày 29 tháng 8 năm 2020, Hoàng Việt H điều khiển xe ô tô chở Nguyễn Minh N , Nguyễn Văn L, Nguyễn Đại T và Lý Văn H đi từ quán K araoke Trư ờng S ơ n ở x ã Hà Lai, huyện H à Trung đến quán Cầm đồ 68 ở x ã Yên Dương, huy ện H à Trung do anh Hoàng Văn D là chủ quán để ch ơi . Trên đư ờng đi, H nảy sinh ý định sử dụng ma túy n ên rủ N, T, L và H mua ma túy về quán Cầm đồ 68 sử dụng. T nói không mang tiền, N nói “Nếu không có tiền th ì ai có bỏ ra ch ơi, h ết bao nhi êu mai chia đều ”, nghe N nói vậy thì H và T đồng ý c òn L và H không có ý kiến g ì. Khi cả nhóm về đến quán cầm đồ 68 th ì xuống xe đi vào quán, Lý Văn H do có việc n ên đi về tr ư ớc . Lúc này trong quán có Mai Thư ợng H đang ngồi sửa điện thoại , T và H thống n hất mua 10 viên ma túy tổng hợp dạng thuố

c lắc v à 1 “chỉ” ketamine để sử dụng. Sau

đó, T gọi điện thoại cho Nguyễn V ăn Đ nhờ Đ đi mua ma túy, Đ đồng ý v à báo giá tiền mua ma túy hết 6.500. 000đ (Sáu triệu năm trăm ngh ìn đồng ). Do không có tài khoản đ ể nhận tiền mua ma túy từ T

nên Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Trọng H hỏi m ư ợn H số t ài khoản ngân hàng để chuyển tiền rồi nhờ H

rút tiền mặt đ ưa cho Đ . H đồng ý , nhắn số t ài khoản ngân h àng MB Bank (Ngân hàng Quân đội ) chi nhánh Thanh Hóa, chủ t ài khoản là Đinh Ngọc C hâm A (bạn gái H ) cho Đ. Đ nhắn tin cho T số t ài khoản ngân h àng. Sau đó T bảo H chuyển tiền, H chuyển v ào tài khoản Đinh Ngọc Châm A số tiền 6.50 0.000 (sáu triệu n ăm trăm nghìn đồng ) rồi bảo N gọi điện cho Nguyễn Thanh B đến chơi. N gọi điện thoại cho B xong thì rủ H ra Thị xã Bỉm S ơ n để đón Lê Thị T (bạn gái của N ) đến quán Cầm đồ 68 ch ơi .

Sau khi H chuyển tiền v ào tài khoản, Nguyễn V ăn Đ đi xe taxi đến gần khu vực

cầu Nguyệt Vi ên thành phố Thanh Hóa, gọi điện thoại bảo H mang tiền đến cho Đ. H đi xe môtô đến đư a cho Đ số tiền 6.500.000 đ (sáu triệu n ăm trăm nghìn đồng ) rồi đi về, Đ đi bộ xuống chân cầu gặp một ng

ư ời không biết t ên, tuổi, địa chỉ hỏi mua 10 viên ma túy “thuốc lắc” v à 1 “chỉ” ketamine với giá 6.500.000đ (sáu triệu n ăm trăm nghìn đồng ), sau đó đi xe taxi về quán Cầm đồ 68. Khi về đến quán, Đ để 02 (hai) gói ma túy ở bàn uống n ư ớc, cầm tờ 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) đang để tr ên bàn ra trả tiền taxi hết 400.000 đ (bố n trăm nghìn đồng) và nhận lại 100.000đ (một tr ăm nghìn đồng) . Khi quay vào, Đ ngồi ở b àn uống n ư ớc d ùng tờ tiền 100.000 đồng cuộn lại , lấy vỏ đầu lọc điế u thuốc lá cố định 2 đầu tờ tiền

để l àm ống hút sử dụng ma túy l à Ketamine. Sau khi Đ cuộn xong ống hút, T, L, Đ và B đi vào phòng ngủ của quán ngồi. T cầm 02 (hai) gói ma túy bỏ v ào đĩa sứ m àu trắng đã có sẵn trong ph òng, Đ cầm ống hút đã cuộn để l ên đĩa sứ rồi ngồi nghe nhạc

, B đi vào lấy một vi ên “thuốc lắc” bẻ một nửa sử

dụng, c òn một nửa B để lại trong đĩa sứ. Khoảng 10 phút sau H

và N đi đón T về, H lấy nửa vi ên thuốc lắc đang để trong đĩa sử dụng , N lấy một vi ên “thuố c lắc” bẻ đôi đư a cho T rồi cả hai sử dụng. T

, L mỗi ng ư ời tự lấy một vi

ên “thuốc lắc” rồi tự sử dụng. S

au khi sử dụng ma túy xong, H đi ra ngoài phòng khách bảo H “ngày mai nếu nhà không có việc g ì thì vào chơ i cùng” H đồng ý , đóng cửa quán rồi đi vào. Lúc này, H lấy một vi ên thuốc lắc bẻ

đôi đư a cho Đ và H mỗi ngư ời nửa vi ên để cả hai sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy (thuốc lắc) xong,

H gọi điện thoại bảo Nguyễn Duy Tr cho bốn nhân vi ên đến để rót n ư ớc , Tr đồn g ý. Khoảng 15 phút sau Tr đưa bốn n hân viên là Quách Thị Hồng N , Lê Thị H , Trịnh Thị C , Trần Thanh Minh T 1 và Thiều Tiến T 2 đến, Hải ra mở c . Khi vào phòng, Tr, T1, T2 mỗi ng ư ời tự lấy nửa vi

ên thuốc lắc để trong đĩa sứ rồi s ử dụng. Sau đó Nguyễn Văn Q

đến , Q tự lấy một vi

ên thuốc lắc rồi sử dụng. Sau khi sử dụng thuốc l ắc xon g H đưa đ ĩa sứ cho H ra bếp ga của quán hơ nóng r ồi đem lạ i đưa cho H . H đổ Ketamine lên đĩa lấy thẻ nhựa cứng miết cho K

etamine nhỏ v à mịn , rồi gạt ra một đư ờng kẻ thẳng

đưa cho Tr sử dụng đầu ti

ên bằng h ình thức hí t, sau đó H kẻ một đ ư ờng Ketamine tự sử dụng , rồi tiếp tục kẻ từng đ ư ờng K etamine lần l ư ợt đ ưa cho T, N, T, Nguyễn Văn L, Đính, H, T, Q, B sử dụng bằng

cách cầm tờ tiền đ ư ợc cuộn tr òn và hít bằng mũi. Khi mọi ng ư ời sử dụng xong

H để đĩ a Ketamine ra đệm rồi ngồi nhắm mắt nghe nhạc.

N, T1, C thấy đĩa K etamine đang để tr ên đệm nên cũng lấy đĩa Ketamine kẻ một đ ư ờng rồi tự sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ng ày 30/8/2020 khi cả nhóm đang ngồi nghe nhạc th ì bị Công an đến kiểm tra , thu giữ , niêm phong tang vật và lập bi ên bản bắt ng ư ời phạm tội quả tang.

Cáo trạng số 16/CT-VKSHT ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa đ ã truy tố các bị cáo Hoàng Việt H , Nguyễn Đại T, Nguyễn Minh N , Nguyễn Văn Đ , Mai Thư ợng H về tội “ Tổ chức sử dụng

trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2 Điều 2 55 Bộ luật h ình sự năm 2015.

Tại phi ên tòa, các bị cáo thừa nhận h ành vi như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Trung giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề nghị áp dụng : điể m b, khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1 Điều

51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật h ình sự đối với tất cả các bị cáo. Điểm t, khoản 1, Điều 51 Bộ luật h

ình sự đối với bị cáo Hoàng Việt H , Nguyễn Văn Đ ; khoản 2, Điều 51 Bộ luật h

ình sự đối với bị cáo Hoàng Việt H , Nguyễn Minh N ; điểm h, khoản 1, Điều 52 , Khoản 2, Điều 56; khoản 5, Điều 65 Bộ luật h

ình sự đối với

Nguyễn Đại T ; Điều 54 Bộ luậ t hình sự đối với Ho àng Việt H . Xử phạt Nguyễn Đ ại T từ 07 (bảy ) năm 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bảy ) năm 09 (chín) tháng tù, sau đó tổng hợp với h

ình phạt 24 tháng t ù tại bản án h ình sự s ơ th ẩm số 43/2020/HS-ST ngày 21/7/2020 của T òa án nhân dân huyện H à Trung; Nguyễn Văn Đ từ 07 (bảy ) năm đến 07 (bảy ) năm 03 (ba) tháng tù; Hoàng Việt H từ 05 (năm) năm tù đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù; xử p hạt các bị cáo Nguyễn Minh N từ 07 (bảy ) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy ) năm 06 (sáu) tháng tù, Mai Thư ợng H từ 07 (bảy ) năm đến 07 (bảy ) năm 03 (ba) tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v

ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh

ư sau:

[1]. Quá trình điề u tra, truy tố các bị cáo không có khiế u nạ i về hành vi tố tụ ng, quyế t đị nh tố tụ ng củ a ngư ờ i tiế n hành tố tụ ng và cơ quan tiế n hành tố tụ ng. Các hành vi tố tụ ng, quyế t đị nh tố tụ ng củ a ngư ờ i tiế n hành tố tụ ng, cơ quan tiế n hành tố tụ ng đã thự c hiệ n đúng vớ i trình tự , thủ tụ c, thẩ m quyề n và hợ p pháp theo quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng hình sự .

[2]. Lờ i khai củ a các bị cáo tạ i phiên toà phù hợ p vớ i lờ i khai củ a các bị cáo ở giai đoạ n điề u tra, phù hợ p vớ i lờ i khai củ a ngư ờ i làm chứng , phù hợ p vớ i vậ t chứ ng thu giữ đư ợ c và bả n kế t luậ n giám đị nh, đủ cơ sở khẳ ng đị nh: Từ tối ngày 29/8/2020 đến 00 giờ 10 phút, ng ày 30 tháng 8 năm 2020, Hoàng Việt H , Nguyễn Văn Đ , Nguyễn Đại T , Nguyễn Minh N , Mai Thư ợng H đã tổ chức cho

Nguyễn Duy Tr , Nguyễn Văn L , Nguyễn Thanh B , Thiều Tiến T 2, Nguyễn Văn Q , Lê Thị T , Trịnh Thị C, Quách Thị Hồng N, Trần Thanh Minh T 1 sử dụng t rái phép chất ma túy tại quán Cầm đồ 68 thuộc Thôn Đoài Thôn, xã Yên Dươ ng, huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa . Vì vậ y, Việ n kiể m sát nhân dân huyệ n Hà Trung truy tố các bị cáo Hoàng Việt H , Nguyễn Văn Đ , Nguyễn Đại T , Nguyễn Minh N , Mai Thư ợng H về tộ i “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ” theo điể m b, khoả n 2, Điề u 255 của Bộ luậ t Hình sự năm 2015 là đúng ngư ờ i, đúng tộ i, đúng pháp luậ t.

[3]. Xét tính chất , vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h

ình sự của các bị cáo trong vụ án thấy rằng

:

Đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đ

ơn, không có s ự phân công cụ thể

, trong đó Hoàng Việt H là ngư ời khởi x ư ớng, bỏ tiền để mua ma túy đồng thời

là ngư ời trực tiếp đ ưa ma túy cho một số đối t ư ợng khác sử dụng . Nguyễn Văn Đ là ngư ời thực h ành tích cực , trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy

. Nguyễn Đại T là ngư ời gọi điện

cho Đ, nhờ Đ đi mua ma túy về sử dụng

. Nguyễn M inh N là ngư ời gọi một số đối t

ư ợng đến sử dụng ma

túy nên giữ vai tr ò chỉ sau Đ và T, Mai Thư ợng H là ngư ời hỗ trợ H các thao tác trong việc tổ chức

sử dụng ma túy nên giữ vai tr ò thấp nhất trong vụ án .

Hành vi củ a các bị cáo là rất nguy hiể m cho xã hộ i, xâm phạ m đế n chế độ độ c quyề n củ a Nhà nư ớ c về kiểm soát, quản lý, sử dụng

các chấ t ma tuý, làm ảnh h ư ởng xấu đến sức khỏe của con ng

ư ời v à trật tự x ã hội . Vì vậy, phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống x ã hội trong một thời gian để cải tạo

, giáo dục các bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Nguyễn Đ ại T là ngư ời trực tiếp gia

o dịch với Đ nhờ mua ma túy và cũng l à đối tư ợng đ ã bị kết án, ng ày 21/7/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện H à Trung xử phạt 24 tháng tù cho hư ởng án treo thời gian thử thách 48 tháng , tính từ ng ày tuyên án sơ thẩm . Trong thời gian thử thách, bị cáo lại tiếp tục phạm tội

do cố ý , lần phạm tội n ày của bị cáo thuộc tr ư ờng hợp tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngo ài buộc bị c áo phải chấp h ành hình phạt t ù của bản án n ày, còn buộc bị cáo phải chấp h ành hình phạt t ù của bản án đ ã cho hư ởng án treo. Ngoài ra, ngày 25/8/2016 bị cáo bị Công an huyện H à Trung xử phạt vi phạm h

ành chính số tiền 2.500.000 đồng về h ành vi xâm hại đến s ức khỏe của ng ư ời khác, mặc d ù bị cáo đ ã chấp h ành xong ngày 12/9/2016 nhưng đi ều đó cho thấy bị cáo có nhân thân xấu

, vì vậy bị cáo phải chịu h

ình phạt cao nhất trong vụ án.

Thời gian tạm giữ, tạm giam của bản án tr ư ớc (từ ng ày 23/5/2019 đến ng ày 14/6/2019) và thời gian tạm giữ, tạm giam của lần phạm tội n

ày đư ợc trừ v ào thời gian chấp h ành hình phạt chính của bị cáo . Bị cáo đư ợc h ư ởng t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h

ình sự l à thành khẩn khai báo theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật h

ình sự.

Nguyễn Minh N là đối t ư ợng trực tiếp gọi cho một

số đối t ư ợng đến sử dụng trái phép ma túy và đã từng bị xử phạt vi phạm h

ành chính, ngày 17/10/2017 bị Công an huyện H à Trung xử phạt vi phạm h

ành chính về h ành vi xâm hại đến sức khỏe ng

ư ời khác, mặc d ù bị cáo đ ã chấp h ành xong quyết định ng ày 22/9/2020 nhưng đi ều đó cho thấy bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm h

ình sự chỉ sau T. Bị cáo cũng đ ư ợc h ư ởng t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h

ình sự l à thành khẩn khai báo theo điểm s, khoản 1, Đ iều 51 Bộ luật h ình sự , ngoài ra bị cáo còn có thời gia n tham gia quân ngũ, ho àn thành nghĩa vụ quân sự,

đư ợc coi l à tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2, Điều 51 Bộ luật h

ình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ là ngư ời thực h ành tích cực, trực tiế

p đi mua ma túy, chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy

. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, đư ợc c ơ quan c ảnh sát điều tra công an huyện

Thạch Th ành xác nhận đã tích cực hợp tác với c ơ quan đi ều tra Công an huyện Thạch Th ành trong việc phát hiện tội phạm , đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h

ình sự theo điểm s, t, khoản 1, Điều 51 Bộ luật h ình sự . Vì vậy, cho bị cáo đ ư ợc h ư ởng mức án thấp nhất của khung hình phạt l à phù hợp .

Mai Thư ợng H tham gia với vai tr ò hỗ trợ, chuẩn bị c

ông cụ để các đối t ư ợng sử dụng ma túy. Sau khi phạm tội đ ã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật h

ình sự. V ì vậy , áp dụng mức thấp nhất của khung h ình phạt đối với bị cáo

là phù hợp.

Bị cáo Hoàng Việt H giữ vai tr ò là ngư ời khởi x ư ớng, bỏ tiền để mua ma túy

đồng thời l à ngư ời trực tiếp đ

ưa ma túy cho m ột số đối t

ư ợng khác sử dụng

. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đ ã thành khẩn khai báo, đư ợc đồn bi ên phòng cửa khẩu Thanh Thủy, Bộ đội bi

ên phòng tỉnh Nghệ An xác nhận

đã tích cực hợp tác với đồn bi

ên phòng cửa khẩu Thanh Thủy, Bộ đội bi

ên phòng tỉnh Nghệ An trong việc phát hiện tội phạm vụ án vận chuyển trái phép chất ma túy, thu giữ 01kg ma túy đá, 01 xe máy, đây là những tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm h ình sự theo điểm s, t, khoản 1, Điều 51 Bộ luật h ình sự. Bị cáo đ ư ợc chính quyền địa ph ương xác nh ận đang trực tiếp nuôi d ư ỡng mẹ liệt sĩ ; trong thời gian sinh sống tại địa ph

ương luôn ch ấp h ành tốt chủ tr ương , đư ờng lối của Đảng, chính sách p háp luật của Nh à nư ớc , tích cực trong việc ủng hộ phòng chống dịch covid ; luôn đi đầu trong phong tr ào giữ g ìn an ninh trật tự v à phòng chống tội phạm

ở địa ph ươn g, đây đư ợc coi l à những t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự theo khoản 2, Điều 51 Bộ luật

hình sự . Bị cáo có nhiều t ình tiết giảm nhẹ, đ ã thật sự ăn năn hối cải, do đó

áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo đư ợc hư ởng mức án dư ới mức thấp nh ất của khung hình phạt là phù hợp .

Trong vụ án n ày Nguyễn Văn L , Nguyễn Duy Tr , Nguyễn Thanh B, Thiều Tiến T2, Nguyễn Văn Q , Lê Thị T , Trịnh Thị C , Quách Thị Hồng N, Trần Thanh Minh T 1 chỉ sử dụng ma túy, không tham gia v ào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện H à Trung đã ra Quyết định xử phạt

vi phạm hành chính về h ành vi sử dụng trái phép chất ma túy l

à đúng quy định. L ê Thị H không sử dụng ma túy, không đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy n

ên Công an huyện H à Trung không xử lý đối với H

là phù hợp với quy định của pháp luật

. Anh Hoàng Văn D (chủ quán cầm đồ 68) không

biết H và các bị cáo khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán nên không có căn cứ để xử lý đối với

anh D. Đối với ng ư ời đ àn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ , do Đ không biết t ên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

[4]. Về vậ t chứ ng: Khối l ư ợng ma túy cơ quan điề u tra thu giữ đư ợ c còn lạ i sau giám đị nh là vậ t cấ m tàng trữ , lư u hành nên tị ch thu tiêu huỷ ; 01 đĩa sứ , 01 thẻ nhựa màu đen, 01 bật lửa ga l à công cụ phạm tội

, do không còn giá trị nên tịch thu ti êu hủy ; 01 ống hút bằng tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng,

04 chiếc điện thoại di động

, các bị cáo dùng làm công cụ, phương ti ện phạm tội n ên phải tịch thu nộp ngân sách nh à nư ớc .

[5]. Hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều l

à lao động tự do, không có thu nhập ổn định . Do đó, Hội đồng xét xử

quyết định không áp dụng h ình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phả i chị u án phí theo quy đị nh củ a pháp luậ t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 255; điể

m s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật h ình sự đối với tất cả các bị cáo. Điểm t, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ho

àng Việt H , Nguyễn Văn Đ ; khoản 2, Điều 51 Bộ luật h

ình sự đối với bị cáo Ho àng Việt H , Nguyễn Minh N; điểm h, khoản 1, Điều 52,

Khoản 2, Điều 56; khoản 5, Điều 65 Bộ luật h

ình sự đối với

Nguyễn Đại T ; Điều 54 Bộ luật hình sự đối với Ho

àng Việt H .

1. Về tộ i danh: các bị cáo Hoàng Việt H , Nguyễn Đại T , Nguyễn V ăn Đ, Nguyễn Minh N, Mai Thư ợng H phạ m tộ i “Tổ chức sử dụng

trái phép chấ t ma tuý”.

2. Về hình phạ t:

- Xử phạ t bị cáo Nguyễn Đại T 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Buộc bị cáo phải

chấp h ành hình phạt 24 (hai mươi b ốn ) tháng tù tại bản án h ình sự s ơ th ẩm số 43/2020/HS-ST ngày 21/7/2020 của T òa án nhân dân huyện H à Trung. Tổng hợp h ình phạt chung của hai bản án l à 9 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị tạm giữ l

à ngày 30/8/2020 và đư ợc trừ thời gian bị cáo đ

ã bị tạm giữ, t ạm giam của bản án tr ư ớc (từ ng ày 23/5/2019 đến ng ày 14/6/2019).

- Xử phạt bị

cáo Nguyễn Minh N 7 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù, thờ i hạ n chấ p hành hình phạ t tù tính từ ngày bị cáo bị tạ m giữ là ngày 30/8/2020.

- Xử phạ t bị cáo Nguyễn Văn Đ 7 (bảy) năm tù, thờ i hạ n chấ p hành hình phạ t tù tính từ ngày bị cáo bị tạ m giữ là ngày 30/8/2020.

- Xử phạt bị cáo Mai Th ư ợng H 7 (bảy) năm tù, thờ i hạ n chấ p hành hình phạ t tù tính từ ngày bị cáo bị tạ m giữ là ngày 30/8/2020.

- Xử phạt bị cáo

Hoàng Việt H 5 (năm) năm tù, thờ i hạ n chấ p hành hình phạ t tù tính từ ngày bị cáo bị tạ m giữ là ngày 30/8/2020.

3. Về xử lý vậ t chứ ng: căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật h

ình sự năm 2015; khoả n 2 Điề u 106 của Bộ luậ t tố tụ ng Hình sự .

Tị ch thu tiêu huỷ : toàn bộ số ma tuý còn lạ i sau giám đị nh, đư ợ c đự ng trong phong bì do Viện khoa học h ình sự Bộ Công an phát hành đư ợ c dán kín, niêm phong; 01 (một) đĩa sứ m àu trắng đ ư ờng kính 23cm; 02 túi nilon màu trắng ; 01 (một) thẻ nhựa cứng màu đen có dòng chữ VINGROUP kích thư ớc 2x3cm; 01 (một) bật lửa ga .

Tịch thu nộp ngân sách nh à nư ớc : 01 ống hút bằng tờ tiền mệnh giá 100.000

đồng ; 04 chiếc điện thoại di động

.

Tất cả vật chứng tịch thu ti

êu hủy v à vật chứng tịch thu nộp ngân sách Nh

à nư ớc đều đư ợc đựng trong phong b ì niêm phong (đặ c điể m củ a phong bì niêm phong theo biên bả n giao, nhậ n vậ t chứ ng giữ a cơ quan Cả nh sát điề u tra Công an huyệ n Hà Trung và Chi cụ c Thi hành án Dân sự huyệ n Hà Trung ngày 23/02/2021).

4. Về án phí: căn cứ khoả n 2 Điề u 136 của Bộ luậ t tố tụ ng Hình sự ; Điề u 6; khoả n 1 Điề u 23 Nghị quyế t số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củ a Ủ y ban thư ờ ng vụ Quố c hộ i.

Buộ c các bị cáo Hoàng Việt H , Nguyễn Đại T , Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Minh Ng , Mai Thư ợng H, mỗ i bị cáo phả i chị u 200.000đ (hai trăm nghìn đồ ng) án phí hình sự sơ thẩ m.

5. Về quyề n kháng cáo: Các bị cáo có quyề n kháng cáo bả n án trong thờ i hạ n 15 (mư ời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trư ờ ng hợ p bả n án đư ợ c thi hành theo Điề u 2 Luậ t Thi hành án Dân sự thì ngư ờ i đư ợ c thi hành án dân sự , ngư ờ i phả i thi hành án dân sự có quyề n thoả thuậ n thi hành án, quyề n yêu cầ u thi hành án, tự nguyệ n thi hành án hoặ c bị cư ỡ ng chế thi hành án theo quy đị nh tạ i các Điề u 6, 7, 7a và 9 Luậ t Thi hành án Dân sự ; thờ i hiệ u thi hành án đư ợ c thự c hiệ n theo quy đị nh tạ i Điề u 30 Luậ t Thi hành án Dân sự .

Cỡ chữ