- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành Lợi - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 13/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Liêm
Ông Lê Xuân Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 48/2025/TLST-HS, ngày 23 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Thành L; sinh năm 1999 tại An Giang; nơi thường trú: Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là Khóm B, phường B, tỉnh An Giang); nơi ở: Số B Sông Đ, Tổ A thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là Số B Sông Đ, Tổ A thôn P, phường T, tỉnh Khánh Hòa); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H (sinh năm 1969) và con bà Nguyễn Thị Diệu H1 (sinh năm 1970); tiền sự: Không; tiền án: Ngày 07/12/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, chấp hành án xong ngày 15/6/2024.
Bị cáo đang bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên toà.
2/ Châu Thanh N; sinh năm 2002 tại Khánh Hòa; nơi thường trú: Tổ A thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (nay là Tổ A thôn P, phường T, tỉnh Khánh Hòa); nơi ở: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (nay là Thôn T, xã C, tỉnh Khánh Hòa); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Châu Thanh D (sinh năm 1974) và con bà Hồ Thị Tuyết M (sinh năm 1974); tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên toà.
3/ Nguyễn Phúc H2; sinh ngày 08/4/2007 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (nay là Thôn T, xã C, tỉnh Khánh Hòa); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị D1 (sinh năm 1984); cha: Không rõ; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị D1; sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã C, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
2/ Ông Lê Dũng H3; sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn V, xã C, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1/ Lý Triều D2; sinh ngày 09/11/2009; nơi thường trú: Thôn D, xã C, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Thôn S, xã C, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của Lý Triều D2: Bà Lê Thị C; sinh năm 1963; trú tại: Thôn S, xã C, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
2/ Nguyễn Thị Thu H4; sinh ngày 29/10/2009; trú tại: Thôn L, xã C, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Thu H4: Bà Nguyễn Thị Thu H5; sinh năm 1972; trú tại: Thôn L, xã C, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
3/ Nguyễn Thị Diễm K; sinh năm 1972; trú tại: TDP N, xã C, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 16/8/2024, Châu Thanh N đến nhà của Nguyễn Thành L chơi và được L rủ ở lại mua ma túy về sử dụng thì N đồng ý. L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade (không rõ biển số, mượn của bạn) chở N đến khu vực Lầu G, phường V, thành phố N gặp một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch mua 01 bịch ma túy đá với giá 500.000 đồng. Trả tiền xong, L chở N về lại nhà và đem ma túy vào phòng ngủ của mình để sử dụng. L lấy bộ dụng cụ đổ một phần ma túy vào ống thủy tinh, dùng bật lửa hơ nóng để cả hai cùng nhau sử dụng; số ma túy còn lại, L dùng bật lửa hàn kín. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, N gọi điện thoại rủ Nguyễn Phúc H2 đến nhà của L để sử dụng ma túy thì H2 đồng ý. Khoảng hơn 30 phút sau, H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển số 79K3 - 1335 đến nhà của L. Tại đây, cả ba cùng nhau sử dụng ma túy.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, anh ruột của L là Nguyễn Thành L1 đi làm về, sợ bị phát hiện nên L bảo cả nhóm nghỉ. Lúc này, N và H2 bàn nhau góp tiền, mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy của L để về C sử dụng tiếp, nhưng do không có tiền nên N nói L bán nợ thì được L đồng ý. L đưa cho N bịch ma túy còn lại trước đó và tặng thêm 01 cái nỏ thủy tinh. H2 điều khiển xe mô tô chở N theo đường đại lộ Nguyễn Tất T về hướng C. Khi đến khu vực “Sáu trụ” Hưng Thịnh thuộc thôn C, xã C, xe của H2 bị hư hỏng, tắt máy. Thấy vậy, N gọi điện nhờ Lý Triều D2, sinh ngày 09/11/2009 đến đẩy xe giúp, sau đó cho sử dụng ma túy thì D2 đồng ý. D2 điều khiển xe mô tô biển số 79Z1 - 624.38 chở bạn gái là Nguyễn Thị Thu H4, sinh ngày 29/10/2009 đến khu vực trên để đẩy xe giúp N. Trên đường đi, khi ngang qua nhà hàng H6 (nơi H2 làm việc) thuộc thôn T, xã C, thì nói cả nhóm đứng chờ, H2 vào lấy 150.000 đồng (tiền của H2 cất tại đây) đưa cho N để trả tiền mua ma túy.
Sau đó, cả nhóm di chuyển đến đường L, thị trấn C thì lúc này xe của H2 nổ máy trở lại. Do đang cất giấu ma túy, sợ bị Công an phát hiện nên H2 chở N đi đường hẻm. N đưa cho D2 150.000 đồng nhờ chuyển vào tài khoản của N và nói D2 bỏ thêm tiền để mua nước ngọt và thuốc lá phục vụ cho việc sử dụng ma túy. D2 điều khiển xe mô tô chở H4 đến quán tạp hóa ở đầu dốc chợ C1 gặp bà Nguyễn Thị Diễm K mua 01 chai nước ngọt Mirinda, loại 1,5 lít; 01 gói thuốc lá Saigon Siliver và xin thêm 02 ống hút nhựa với giá 50.000 đồng. D2 đưa cho bà K 200.000 đồng nhờ chuyển giúp 150.000 đồng vào tài khoản M1 số 0378908310 của Châu Thanh N. Khi đến nhà H2 thấy trong nhà có người nên N bảo cả nhóm đến khu vực đất phân lô phía sau nhà máy đường K thuộc thôn T, xã C để sử dụng ma túy. Khi đến nơi, N nói H2 đi tìm 01 vỏ chai nhựa và nói Dương tháo nắp chai nước ngọt đưa cho N. N sử dụng bật lửa hơ nóng, đục 02 lỗ trên nắp chai, một lỗ gắn ống hút, một lỗ gắn nỏ thủy tinh để làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, N lấy bịch ma túy đổ một ít vào nỏ thủy tinh, sử dụng bật lửa để hơ nóng, rồi N và D2 thay phiên nhau sử dụng. H2, H4 không sử dụng mà ngồi đợi N và D2. Số ma túy còn lại, N dùng bật lửa hàn kín. Sau khi sử dụng xong, N lấy bịch ma túy, nắp chai, nỏ thủy tinh và bật lửa bỏ vào gói thuốc lá cất giấu trong người; còn vỏ chai và ống hút thì vứt lại. Sau đó, H2 chở N lên thị trấn C tìm nhà nghỉ để ngủ qua đêm, còn D2 thì chở H4 về nhà của mình.
Khoảng 02 giờ ngày 17/8/2024, khi H2 điều khiển xe mô tô chở N lưu hành trên đường Q thuộc tổ dân phố B, thị trấn C thì bị Công an thị trấn C đang đi tuần tra nghi ngờ giữ lại. Quá trình kiểm tra, N tự lấy ra từ trong túi quần 01 gói thuốc lá nhãn hiệu Saigon Siliver, bên trong gói thuốc chứa: 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước (1.5x1.8)cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu A); 01 ống thủy tinh dài 9.2cm, một đầu uốn cong có hình dạng phễu, bên trong bám dính chất màu trắng nâu (được niêm phong trong phong bì ký hiệu B); 01 nắp chai nhựa và 01 bật lửa. Tổ tuần tra tiến hành lập biên bản sự việc, tạm giữ tang vật và đưa cả hai về trụ sở để làm việc. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành L tại thôn P, xã V, thành phố N, Cơ quan CSĐT Công an huyện C phát hiện và thu giữ tại phòng ngủ của L: 01 lọ thủy tinh kích thước (37.5 x 4.5)cm, có nắp đậy bằng nhựa, trên nắp đục 02 lỗ, một lỗ gắn 01 ống thủy tinh, bên trong bám dính chất màu trắng nâu (được niêm phong trong phong bì ký hiệu 2130503), một lỗ gắn ống hút nhựa; 01 phần thân dưới bật lửa màu trắng, kích thước (7x2)cm và 01 ống kim loại đường kính 0.3cm, dài 9.4cm.
Xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Thành L, Nguyễn Phúc H2 và Châu Thanh N đều cho kết quả dương tính với ma túy đá (Methamphetamine).
Tại Kết luận giám định số: 479/2024/KL-KTHS ngày 23/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận: Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A và chất màu trắng nâu bám dính trong ống thủy tinh của các mẫu ký hiệu B, 2130503 gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine.
+ Mẫu A có khối lượng 0,0907g (đã sử dụng hết trong quá trình giám định);
+ Mẫu B không xác định được khối lượng;
+ Mẫu 2130503 không xác định được khối lượng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thành L, Nguyễn Phúc H2 và Châu Thanh N khai nhận hành vi của mình như nội dung nêu trên. Đối với Lý Triều D2 đến ngày 22/8/2024 Cơ quan điều tra mới làm việc được.
Cáo trạng số 36/CT-VKSCL ngày 09/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm đã truy tố: Nguyễn Thành L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b, c, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự và “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; Châu Thanh N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; Nguyễn Phúc H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; điểm a, b, c, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo L phải chấp hành từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm 06 tháng tù.
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Châu Thanh N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 91; điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Điều 119 và Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc H2 từ 04 năm 03 tháng đến 04 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tịch thu, tiêu hủy công cụ, phương tiện phạm tội của các bị cáo, gồm: 01 vỏ bao thuốc lá bằng giấy, nhãn hiệu Saigon Siliver, màu bạc, kích thước (8.6x4.6x1.9)cm; 01 ống thủy tinh dài 9.2cm, một đầu uốn cong có hình dạng cầu (phễu), bên trong bám dính chất màu trắng nâu; 01 nắp chai nhựa màu trắng, hình tròn, đường kính 2.8cm, trên nắp chai đục 02 lỗ tròn; 01 bật lửa dán nhãn “Hoa Việt”, màu xanh, đã tháo bộ phận đánh lửa; 01 lọ thủy tinh kích thước (37.5 x 4.5)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu nâu, phần trên nắp đục 02 lỗ; 01 ống thủy tinh dài 14cm, một đầu uốn cong có hình dạng cầu (hình phễu), bên trong bám dính chất màu trắng nâu; 01 ống hút nhựa dài 44cm (được nối từ 02 ống hút: 01 ống hút màu cam dài 14.5cm và 01 ống hút màu vàng dài 29.5cm); 01 phần thân dưới bật lửa màu trắng, kích thước (7x2)cm và 01 ống kim loại đường kính 0.3cm, dài 9.4cm (đầu khò); 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 15cm; 01 que thử nhanh chất ma túy nhãn hiệu CHEMTRUE” hiển thị kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine đối với Nguyễn Phúc H2, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “C”; 01 que thử nhanh chất ma túy nhãn hiệu CHEMTRUE” hiển thị kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine đối với Châu Thanh N, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “D”; 01 que thử nhanh chất ma túy bằng nước tiểu loại Fastep (05 chân) đối với Nguyễn Thành L có kết quả dương tính với chất ma túy, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “G”.
+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu bạc, dung lượng 32GB, bên trong gắn thẻ sim số 0378.908.310 của Châu Thanh N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, gắn sim số 0869.031.682, tình trạng máy không lên nguồn, màn hình không hiển thị của Nguyễn Phúc H2; số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) trong Tài khoản số 0378908610 tại Công ty cổ phần Z (zalopay) của Châu Thanh N.
+ Trả lại cho bà Nguyễn Thị D1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển kiểm soát 79K3 - 1335, số máy FMG01123344, số khung XL300113944; trả lại cho Châu Thanh N 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1820, màu đỏ, bên trong không gắn sim.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung truy tố của bản cáo trạng. Các bị cáo không tranh luận, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa) đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tố tụng tại phiên toà: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D1, ông Lê Hoàng D3 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người làm chứng vắng tại phiên tòa không có lí do. Xét thấy hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung của biên bản sự việc, bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như nội dung của bản cáo trạng số 36/CT-VKSCL ngày 09/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa) đã truy tố đối với các bị cáo nên có đủ căn cứ xác định các bị cáo đã có hành vi phạm tội như sau:
Nguyễn Thành L có hành vi khởi xướng, chuẩn bị ma túy, công cụ, địa điểm để tổ chức cho Châu Thanh N, Nguyễn Phúc H2 sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 16/8/2024 tại 2 Sông Đ, thôn P, xã V, thành phố N và cung cấp công cụ (nỏ thủy tinh) cho Châu Thanh N và Lý Triều D2 sử dụng trái phép chất ma túy vào rạng sáng ngày 17/8/2024 tại thôn T, xã C, huyện C, trong đó Nguyễn Phúc H2 và Lý Triều D2 là người chưa đủ 18 tuổi; ngoài ra L có một tiền án về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích. Như vậy hành vi nêu trên của bị cáo L đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b, c, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Châu Thanh N có hành vi rủ rê Nguyễn Phúc H2 cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với Nguyễn Thành L vào ngày 16/8/2024 tại 2 Sông Đ, thôn P, xã V, thành phố N và chuẩn bị ma túy, công cụ, địa điểm để tổ chức cho Lý Triều D2 sử dụng trái phép chất ma túy vào rạng sáng ngày 17/8/2024 tại thôn T, xã C, huyện C, trong đó Nguyễn Phúc H2 và Lý Triều D2 là người chưa đủ 18 tuổi. Hành vi nêu trên của bị cáo N đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Nguyễn Phúc H2 có hành vi chuẩn bị ma túy, công cụ để tổ chức cho Châu Thanh N và Lý Triều D2 (là người chưa đủ 18 tuổi) sử dụng trái phép chất ma túy vào rạng sáng ngày 17/8/2024 tại thôn T, xã C, huyện C. Hành vi nêu trên của bị cáo H2 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, Nguyễn Thành L đã có hành vi bán cho Châu Thanh N 01 bịch ma túy đá (loại Methamphetamine) với giá 300.000 đồng vào khoảng 23 giờ ngày 16/8/2024, tại thôn P, xã V, thành phố N. Hành vi nêu trên của bị cáo L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung truy tố của Cáo trạng số 36/CT-VKSCL ngày 09/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa) đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và ngăn ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo Nguyễn Thành L là người khởi sướng, rủ rê, chuẩn bị ma túy, công cụ, địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người, nhiều lần, trong đó có Nguyễn Phúc H2 và Lý Triều D2 là người chưa đủ 18 tuổi, và có 01 (một) tiền án về tội cướp giật tài sản; sau đó, bị cáo L tiếp tục bán phần ma túy còn lại cho bị cáo N để N tiếp tục tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Lý Triều D2. Bị cáo Châu Thanh N sau khi cùng L sử dụng trái phép chất ma túy thì rủ rê Nguyễn Phúc H2 và cùng L tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho H2 tại N, sau đó lại tiếp tục chuẩn bị ma túy, công cụ, địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Lý Triều D2 là người chưa đủ 18 tuổi, tại C. Bị cáo Nguyễn Phúc H2 chuẩn bị ma túy, công cụ để Châu Thanh N và Lý Triều D2 là người chưa đủ 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy tại C. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhất đối với bị cáo L, xử phạt bị cáo L mức phạt tù cao hơn các bị cáo khác; xử phạt bị cáo N mức hình phạt thấp hơn bị cáo L và cao hơn bị cáo H2 là phù hợp với vai trò, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Thành L bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo. Đối với Nguyễn Phúc H2, khi phạm tội các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 119 và khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo mức hình phạt bằng ba phần năm mức hình phạt tù đối với người trưởng thành.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,0907g Methamphetamine của Châu Thanh N nhằm mục đích sử dụng là chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện C có văn bản đề nghị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Châu Thanh N về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” với số tiền 3.500.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với đối tượng Nguyễn Thị Thu H4: Mặc dù biết nhóm Châu Thanh N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào rạng sáng ngày 17/8/2024 nhưng vào thời điểm đó, H4 sinh ngày 29/10/2009 (chưa đủ 16 tuổi) nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu bạc, dung lượng 32GB, bên trong gắn thẻ sim số 0378.908.310 của Châu Thanh N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, gắn sim số 0869.031.682 của Nguyễn Phúc H2 là công cụ, phương tiện phạm tội và số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) trong Tài khoản số 0378908610 tại Công ty cổ phần Z (zalopay) của Châu Thanh N đã được phong tỏa theo Lệnh Phong tỏa tài khoản số 413/LPT-CSĐT-ĐHSKTMT,ngày 12/12/2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện C là tài sản do phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển kiểm soát 79K3 - 1335, số máy FMG01123344, số khung XL300113944, Nguyễn Phúc H2 điều khiển khi thực hiện hành vi phạm tội. Bà Nguyễn Thị D1 là mẹ của bị cáo H2 trình bày xe này là của bà D1 mua của một người thanh niên với giá 6.000.000 đồng và cho H2 mượn để đi làm. Tuy nhiên, kết quả xác minh thể hiện xe này được đứng tên chủ sỡ hữu là ông Lê Dũng H3, sinh năm 1976, trú tại thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm ngày 17/3/0025 ông H3 khai đã bán từ lâu cho một người đàn ông, không nhớ rõ là ai, giá bán xe là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Đến nay vẫn chưa xác định được chủ sở hữu của xe này nên cần giao lại cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh K để tiếp tục điều tra, xác minh chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1820, màu đỏ, bên trong không gắn sim là tài sản của Châu Thanh N, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Châu Thanh N.
Đối với 01 vỏ bao thuốc lá bằng giấy, nhãn hiệu Saigon Siliver, màu bạc, kích thước (8.6x4.6x1.9)cm; 01 ống thủy tinh dài 9.2cm, một đầu uốn cong có hình dạng cầu (phễu), bên trong bám dính chất màu trắng nâu; 01 nắp chai nhựa màu trắng, hình tròn, đường kính 2.8cm, trên nắp chai đục 02 lỗ tròn; 01 bật lửa dán nhãn “Hoa Việt”, màu xanh, đã tháo bộ phận đánh lửa; 01 lọ thủy tinh kích thước (37.5 x 4.5)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu nâu, phần trên nắp đục 02 lỗ; 01 ống thủy tinh dài 14cm, một đầu uốn cong có hình dạng cầu (hình phễu), bên trong bám dính chất màu trắng nâu; 01 ống hút nhựa dài 44cm (được nối từ 02 ống hút: 01 ống hút màu cam dài 14.5cm và 01 ống hút màu vàng dài 29.5cm); 01 phần thân dưới bật lửa màu trắng, kích thước (7x2)cm và 01 ống kim loại đường kính 0.3cm, dài 9.4cm (đầu khò), là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; điểm a, b, c, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chấp hành 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam (ngày 17/8/2024).
3. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Châu Thanh N 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam (ngày 17/8/2024).
4. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 91; điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc H2 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam (ngày 17/8/2024).
5. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu bạc, dung lượng 32GB, bên trong gắn thẻ sim số 0378.908.310;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, gắn sim số 0869.031.682 ;
- Số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) trong Tài khoản số 0378908610 tại Công ty cổ phần Z (zalopay) của Châu Thanh N, được phong tỏa theo Lệnh Phong tỏa tài khoản số 413/LPT-CSĐT-ĐHSKTMT,ngày 12/12/2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện C là tài sản do phạm tội mà có nên cần.
Giao lại cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh K 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển kiểm soát 79K3 - 1335, số máy FMG01123344, số khung XL300113944 để tiếp tục điều tra, xác minh chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.
Trả lại cho Châu Thanh N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1820, màu đỏ, bên trong không gắn sim.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc lá bằng giấy, nhãn hiệu Saigon Siliver, màu bạc, kích thước (8.6x4.6x1.9)cm; 01 ống thủy tinh dài 9.2cm, một đầu uốn cong có hình dạng cầu (phễu), bên trong bám dính chất màu trắng nâu; 01 nắp chai nhựa màu trắng, hình tròn, đường kính 2.8cm, trên nắp chai đục 02 lỗ tròn; 01 bật lửa dán nhãn “Hoa Việt”, màu xanh, đã tháo bộ phận đánh lửa; 01 lọ thủy tinh kích thước (37.5 x 4.5)cm, có nắp đậy bằng nhựa màu nâu, phần trên nắp đục 02 lỗ; 01 ống thủy tinh dài 14cm, một đầu uốn cong có hình dạng cầu (hình phễu), bên trong bám dính chất màu trắng nâu; 01 ống hút nhựa dài 44cm (được nối từ 02 ống hút: 01 ống hút màu cam dài 14.5cm và 01 ống hút màu vàng dài 29.5cm); 01 phần thân dưới bật lửa màu trắng, kích thước (7x2)cm và 01 ống kim loại đường kính 0.3cm, dài 9.4cm (đầu khò); 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 15cm; 01 que thử nhanh chất ma túy nhãn hiệu CHEMTRUE” hiển thị kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine đối với Nguyễn Phúc H2, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “C”; 01 que thử nhanh chất ma túy nhãn hiệu CHEMTRUE” hiển thị kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine đối với Châu Thanh N, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “D”; 01 que thử nhanh chất ma túy bằng nước tiểu loại Fastep (05 chân) đối với Nguyễn Thành L có kết quả dương tính với chất ma túy, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “G”.
Tình trạng vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKSCL, ngày 02/01/2025; Quyết định chuyển vật chứng (bổ sung) số 11/QĐ-VKSCL, ngày 03/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm (Nay là Viển kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa) và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm.
6. Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí tòa án;
Buộc các bị cáo Nguyễn Thành L, Châu Thanh N, Nguyễn Phúc H2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Khu vực 2 - Khánh Hòa; - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cơ quan THADS tỉnh Khánh Hòa; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Tú Vinh |