vanban.org

Bản án 17/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc B phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS. Xử phạt: Hoàng Ngọc B 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ 30/7/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc B - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc B phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
KHU VỰC 11 -ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HSST
Ngày: 27/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lương Đức Hiền;

- Ông Dương Văn Thạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Trung – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 11- Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11- Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xét xử của Toà án nhân dân Khu vực 11- Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Hoàng Ngọc B - Sinh năm: 1987;

+ Nơi cư trú: Tổ 9, tổ dân phố D, xã Th M, thành phố Đ N;

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Hoàng Bá Ư và bà Lê Thị Th (cả 02 còn sống); Vợ: Bờ Nước Thị Th, sinh năm 1987 (đã ly hôn); có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2011;

Tiền án: không;

Tiền sự: ngày 18/7/2023, TAND huyện Nam Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/2023/QĐ-TA với thời hạn 15 tháng kể từ ngày 30/6/2023. Đến ngày 01/4/2024 thì chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Giấy chứng nhận số 50/GCN-CSCNMT ngày 01/4/2024 của Cơ sở cai nghiệm ma tuý tỉnh Quảng Nam.

Nhân thân:

- Tháng 3/2016, Hoàng Ngọc B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù giam theo Bản án số 87/2016/HS- ST ngày 27/7/2016 của Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

- Ngày 19/9/2019, Hoàng Ngọc B có hành vi Xâm hại sức khỏe người khác; Công an huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 31 ngày 17/10/2019 về việc xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.250.000 đồng.

- Ngày 27/02/2020, Hoàng Ngọc B có hành vi Gây rối trật tự công cộng; Công an huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 41/QĐ ngày 24/3/2020 về việc xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 4.000.0000 đồng.

- Ngày 03/3/2020, Hoàng Ngọc B có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tuý; Công an huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 40/QĐ-XPHC ngày 03/3/2020 về việc xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng.

- Ngày 09/4/2020, Hoàng Ngọc B có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Công an huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 134/QĐ ngày 08/5/2020 về việc xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng.

- Ngày 08/5/2020, UBND thị trấn Thạnh Mỹ ra Quyết định số 61/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Hoàng Ngọc B.

- Ngày 09/5/2020, Hoàng Ngọc B phạm tội “Hiếp dâm”; Tòa án nhân dân huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam xử phạt tù có thời hạn 3 năm 6 tháng theo Bản án số 12/2020/HSST ngày 10/9/2020.

- Ngày 20/4/2023, Hoàng Ngọc B có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Công an thị trấn Thạnh Mỹ ra Quyết định số 08/QĐ-VPHC về việc xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.

- Ngày 14/4/2023, Chủ tịch UBND thị trấn Thạnh Mỹ ra Quyết định số 63/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Hoàng Ngọc B.

- Ngày 08/4/2024, Chủ tịch UBND thị trấn Thạnh Mỹ ra Quyết định số 27/QĐ UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Hoàng Ngọc B.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/7/2025 chuyển tạm giam từ ngày 08/8/2025 đến nay, có mặt.

2. Những người tham gia tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Ngô Phi D, sinh năm 1981 (vắng mặt);

+ Địa chỉ: tổ dân phố P D 1, xã Th M, thành phố Đ N.

Người làm chứng:

- Ông Lang Thái H, sinh năm 1983 (vắng mặt);

+ Địa chỉ: tổ 8, tổ dân phố D, xã Th M, thành phố Đ N.

- Ông Ahó B, sinh năm 1989 (vắng mặt);

+ Địa chỉ: tổ dân phố D, xã Th M, thành phố Đ N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 29/7/2025, Công an xã Thạnh Mỹ, thành phố Đà Nẵng tiến hành mời Hoàng Ngọc B là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 27/QĐ-UBND ngày 08/4/2024 của Chủ tịch UBND thị trấn Thạnh Mỹ (thời hạn quản lý: từ ngày 08/4/2024 đến ngày 08/4/2026) đến trụ sở để làm việc. Tại đây, Công an xã Thạnh Mỹ tiến hành thử kiểm tra nhanh chất ma tuý trong cơ thể của Hoàng Ngọc B cho kết quả dương tính với chất ma túy loại: Methamphetamine và Amphetamine. Qua điều tra, B khai nhận: khoảng 15 giờ ngày 26/7/2025, B tình cờ gặp Hùng (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực gần cổng Trường THCS Nội trú Dân tộc xã Thạnh Mỹ trên đường Hồ Chí Minh đang đứng một mình đón xe đi Đắk Lắk. Lúc này, B hỏi Hùng: “Có biết chỗ nào bán ma túy đá không?”, Hùng trả lời: “có ông tên Tý ở khu vực ngã B Đại Hiệp thuộc xã Đại Lộc, thành phố Đà Nẵng”. Sau đó, Hùng lấy số điện thoại đưa cho B rồi nói: “Điện ông Tý đi” nhưng B nói: “Không có điện thoại” nên Hùng liên lạc cho Tý để đặt mua 300.000 đồng ma túy đá. Đồng thời, B nhờ Hùng nói Tý cho B một nỏ thủy tinh để sử dụng. Qua trao đổi, Tý đồng ý bán 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng, cho một nỏ thủy tinh và yêu cầu B xuống khu vực ngã B Đại Hiệp thuộc địa phận xã Đại Lộc, thành phố Đà Nẵng để giao dịch. Sau khi thống nhất, B quá giang xe chở quặng để đến điểm hẹn với Tý. Khi đến nơi, B xuống xe và đi bộ đến chỗ một người đàn ông đang ngồi trên xe máy Sirius màu đen, không rõ biển số đang dựng bên phải đường tại khu vực ngã B Đại Hiệp theo hướng xã Thạnh Mỹ - thành phố Đà Nẵng. Lúc này, B đi đến và hỏi: “Anh có phải tên Tý không?" thì người đàn ông này nói: “Đúng”. Nghe vậy, B liền lấy 300.000 đồng từ trong túi quần đưa cho Tý. Tý cầm sẵn gói ma túy nhỏ trên tay bên phải cùng một cái nó thủy tinh chưa sử dụng đưa cho B rồi lên xe điều khiển rời đi theo hướng thành phố Đà Nẵng. Sau khi có được ma túy, B lấy ma túy đá cùng nó thủy tinh bỏ vào trong túi quần dài đang mặc rồi tìm xe ô tô chở quặng quá giang về lại xã Thạnh Mỹ.

Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Hoàng Ngọc B một mình đi bộ đến khu vườn cây của ông Ngô Phi Dũng (sinh năm 1981) thuộc tổ dân phố Pà Dấu 1, xã Thạnh Mỹ, thành phố Đà Nẵng rồi lượm ống hút nhựa, vỏ bình nhựa có sẵn nắp ở bên đường để tự tạo bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá. B tìm một vị trí trong vườn cây, lấy ống hút nhựa, nỏ thủy tinh gắn vào hai lỗ của nắp bình nhựa, tiếp tục lấy số ma túy đá mua được từ Tý đổ vào nỏ thủy tinh, dùng bật lửa khò để đốt và một mình B sử dụng cho đến hết số ma túy đá này. Sau khi sử dụng ma túy đá xong, B dọn dẹp, đem bật lửa bỏ trong người; số dụng cụ đã sử dụng ma túy đá còn lại, B đem bỏ vào trong Bo nilong rồi cuốn lại, để vào bụi cây gần đó rồi B đi về nhà. Đến 14 giờ ngày 29/7/2025, Công an xã Thạnh Mỹ, thành phố Đà Nẵng mời B đến trụ sở để thử kiểm tra nhanh chất ma túy trong người, kết quả: B dương tính với chất ma túy đồng thời B khai nhận toàn bộ sự việc như đã nêu trên.

* Tại Kết luận giám định số 638/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:

- Trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu B gửi giám định có tìm thấy chất ma túy; loại Methamphetamine.

- Chất bám dính màu nâu sẫm ở phần bầu tròn của nỏ thủy tinh trong hộp niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; không xác định được khối lượng của chất bám dính màu nâu sẫm.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSKV11 ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Đà Nẵng truy tố bị cáo Hoàng Ngọc B về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, qua phần tranh tụng công khai đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc B phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”;

Đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;

+ Xử phạt: Hoàng Ngọc B từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (B) năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 túi ni lông màu trắng; 01 bình nhựa trong suốt, dạng hình hộp chữ nhật, mặt ngoài trên thân bình nhựa có chữ nổi “AA”, kích thước thân bình nhựa cao khoảng 10,5cm, nắp đậy bình nhựa màu vàng, đường kính nắp khoảng 03cm, trên nắp bình có hai lỗ thủng; 01 ống hút nhựa màu tím sọc trắng, đã bị uốn cong; 01 nỏ thủy tinh màu trắng, kích thước thân ống trụ của nỏ dài khoảng 06,5cm, có chất bám dính bên trong màu nâu sẫm, được niêm phong theo quy định của pháp luật, đặt ký hiệu B1. Mẫu nước tiểu của Hoàng Ngọc B được đựng trong chai nhựa trong suốt, loại 500ml được niêm phong theo quy định của pháp luật, đặt ký hiệu B. (Toàn bộ vỏ Bo gói các mẫu ký hiệu: B, B1 hoàn trả được bỏ vào túi niêm phong mã số NS2 có dãy số 2005516, bên ngoài có chữ ký giám định viên và điều tra viên theo Biên bản giao nhận hoàn trả sau giám định của Kết luận giám định số: 638/KLMT-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng); 01 bật lửa dạng khò.

Bị cáo đồng ý với Cáo trạng truy tố và Luận tội của Kiểm sát viên nên không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì nhưng xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội công khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với toàn bộ lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có tại hồ sơ vụ án. Phù hợp với: Biên bản vụ việc; Biên bản tạm giữ tài liệu đồ vật cùng ngày 29/7/2025; Kết luận giám định số 638/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng. Phù hợp với các tài liệu, chứng cứ và tang vật được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời, qua tranh luận công khai, bị cáo đồng ý với lời luận tội đề nghị kết tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng. Do đó, HĐXX có đầy đủ cơ sở để kết luận: Hoàng Ngọc B là đối tượng đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 27/QĐ-UBND ngày 08/4/2024 của Chủ tịch UBND thị trấn Thạnh Mỹ (thời hạn quản lý: từ ngày 08/4/2024 đến ngày 08/4/2026) nhưng khoảng 20 giờ ngày 26/7/2025, tại vườn cây thuộc thôn Pà Dấu 1, xã Thạnh Mỹ, thành phố Đà Nẵng, Hoàng Ngọc B đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại: Methamphetamine và bị Công an xã Thạnh Mỹ, thành phố Đà Nẵng phát hiện vào ngày 29/7/2025. Hành vi nêu trên của Hoàng Ngọc B đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Hoàng Ngọc B nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng với suy nghĩ lệch lạc về việc hưởng thụ nên đã tự tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện dẫn đến phạm tội. Bản thân bị cáo có 01 tiền sự khi bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; ngoài ra bị cáo có có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị các cơ quan chức năng xử phạt tù và xử lý hành chính về các hành vi: Hiếp dâm; Cố ý gây thương tích; Gây rối tự tự nơi công cộng và các hành vi liên quan đến ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục phạm tội.

Thực trạng hiện nay hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày càng gia tăng gây nhiều bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương. Để đảm bảo giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm.

Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên HĐXX có xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích và nhận định như trên, cho thấy Cáo trạng truy tố của VKSND khu vực 11- Đà Nẵng đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt tù áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với các quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về vật chứng vụ án: 01 túi ni lông màu trắng; 01 bình nhựa trong suốt, dạng hình hộp chữ nhật, mặt ngoài trên thân bình nhựa có chữ nổi “AA”, kích thước thân bình nhựa cao khoảng 10,5cm, nắp đậy bình nhựa màu vàng, đường kính nắp khoảng 03cm, trên nắp bình có hai lỗ thủng; 01 ống hút nhựa màu tím sọc trắng, đã bị uốn cong; 01 nỏ thủy tinh màu trắng, kích thước thân ống trụ của nỏ dài khoảng 06,5cm, có chất bám dính bên trong màu nâu sẫm, được niêm phong theo quy định của pháp luật, đặt ký hiệu B1. Mẫu nước tiểu của Hoàng Ngọc B được đựng trong chai nhựa trong suốt, loại 500ml được niêm phong theo quy định của pháp luật, đặt ký hiệu B. (Toàn bộ vỏ Bo gói các mẫu ký hiệu: B, B1 hoàn trả được bỏ vào túi niêm phong mã số NS2 có dãy số 2005516, bên ngoài có chữ ký giám định viên và điều tra viên theo Biên bản giao nhận hoàn trả sau giám định của Kết luận giám định số: 638/KLMT-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng); 01 bật lửa dạng khò. Đây là các công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Những vấn đề liên quan đến vụ án:

- Đối với người thanh niên tên Hùng và người đàn ông tên Tý: CQĐT đã tiến hành xác minh, thu thập thông tin, tài liệu nhưng không đủ cơ sở để xác định nhân thân, lai lịch của những người này. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng không có cơ sở để xử lý.

- Đối với ông Ngô Phi Dũng là chủ vườn cây nơi Hoàng Ngọc B sử dụng trái phép chất ma túy: do vườn cây nhà ông Dũng không có rào chắn hoặc vật che chắn người khác vào vườn cây đồng thời ông Dũng cũng không biết B sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 26/7/2025 nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng không xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc B phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS.

+ Xử phạt: Hoàng Ngọc B 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ 30/7/2025.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 túi ni lông màu trắng; 01 bình nhựa trong suốt, dạng hình hộp chữ nhật, mặt ngoài trên thân bình nhựa có chữ nổi “AA”, kích thước thân bình nhựa cao khoảng 10,5cm, nắp đậy bình nhựa màu vàng, đường kính nắp khoảng 03cm, trên nắp bình có hai lỗ thủng; 01 ống hút nhựa màu tím sọc trắng, đã bị uốn cong; 01 nỏ thủy tinh màu trắng, kích thước thân ống trụ của nỏ dài khoảng 06,5cm, có chất bám dính bên trong màu nâu sẫm, được niêm phong theo quy định của pháp luật, đặt ký hiệu B1. Mẫu nước tiểu của Hoàng Ngọc B được đựng trong chai nhựa trong suốt, loại 500ml được niêm phong theo quy định của pháp luật, đặt ký hiệu B. (Toàn bộ vỏ Bo gói các mẫu ký hiệu: B, B1 hoàn trả được bỏ vào túi niêm phong mã số NS2 có dãy số 2005516, bên ngoài có chữ ký giám định viên và điều tra viên theo Biên bản giao nhận hoàn trả sau giám định của Kết luận giám định số: 638/KLMT-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng); 01 bật lửa dạng khò.

(Hiện các vật chứng trên được lưu giữ tại Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 11- Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2025).

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

Buộc bị cáo Hoàng Ngọc B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND thành phố Đà Nẵng;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thành phố Đà Nẵng;

- Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng -VKSND khu vực 11- Đà Nẵng;

- Công an thành phố Đà Nẵng;

- THADS thành phố Đà Nẵng;

- Bị cáo và những người tham gia TT;

Nguyễn Văn Lộc

- Lưu hồ sơ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ